chương I những quy định chung, BLDS có một số điều chỉnh như sau: Về quyền thừa kế, pháp lệnh thừa kế quy định công dân có quyền để lại thừa kế thì BLDS 1995 đã có sự điều chỉnh thành cá nhân. Như vậy, BLDS đã chỉ rõ chỉ có cá nhân mới có quyền để lại thừa kế chứ không phải là bất kỳ một chủ thể nào khác. Về di sản thừa kế, ngoài những di sản mà Pháp lệnh đã quy định, BLDS đã bổ sung quyền sử dụng đất vào di sản thừa kế tại khoản 2, Điều 637: “Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này”. BLDS 1995 đã bổ sung một số điều về người quản lý di sản, quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản và quyền từ chối nhận di sản của người được nhận thừa kế, thời hiệu khởi kiện thừa kế (quy định tại Điều 641, 642, 643, 645).
Sự bổ sung những điều luật này có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thực tiễn về những tranh chấp liên quan đến các vấn đề nói trên, phù hợp với thực tiễn xã hội ngày càng phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người để lại di chúc và người thừa kế di chúc. 20 Chương II phần thứ tư BLDS 1995 quy định về thừa kế theo di chúc. Tại chương này BLDS 1995 cũng có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Cụ thể như sau: BLDS 1995 đã bổ sung pháp lệnh thừa kế 1990: quy định rõ di chúc là gì? “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” .(Điều 649), BLDS 1995 còn quy định về năng lực chủ thể của người lập di chúc.
Những trường hợp nằm ngoài các trường hợp dưới đây thì cá nhân nào lập di chúc, di chúc đó sẽ không được công nhận. Như vậy, BLDS 1995 đã có sự quy định khác về năng lực của người lập di chúc so với Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đó là: ngoài cá nhân đã thành niên từ đủ 18 tuổi không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân khi lập di chúc tự nguyện, minh mẫn không bị lừa dối, cưỡng ép thì pháp lệnh công nhận di chúc đó là hợp pháp. Ngoài ra, Pháp lệnh quy định “Di chúc cũng được coi là hợp pháp nếu do người từ đủ mười sáu tuổi trở lên nhưng chưa đủ mười tám tuổi tự nguyện lập trong khi minh mẫn, được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đỡ đầu, không bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật”. BLDS 1995 mở rộng phạm vi cá nhân có quyền lập di chúc là từ 15 tuổi trở lên “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”.
( Khoản 2 Điều 650, BLDS 1995) Về quyền của người lập di chúc, thực tiễn cho thấy trong nội dung di chúc của một số cá nhân có phần di tặng (tặng cho) di sản cho những người nằm ngoài những người được hưởng di sản thừa kế, di tặng một phần trong khối di sản để lại của người đó sau khi chết. Khoản 4 Điều 651, BLDS 1995 đã bổ sung về phần di sản dùng để di tặng, phần mà Pháp lệnh thừa kế năm 1990 không đề cập đến. Về di chúc miệng, Pháp lệnh Thừa kế 1990 thừa nhận giá trị của di chúc miệng nhưng không qui định thủ tục ghi chép lại di chúc miệng. Khi tranh tụng tại tòa án, hầu hết các di chúc miệng đều bị tòa án bác bỏ vì không có cơ sở để tin cậy nếu chỉ dựa vào lời khai đơn phương của một bên nhân chứng hoặc khi các nhân 21 chứng có lời khai mâu thuẫn.
Khắc phục bất cập này, BLDS 1995 qui định về thủ tục lập nội dung di chúc miệng là: những người làm chứng “phải ghi chép lại bằng văn bản ngay sau đó”. Nhưng “ngay sau đó” là bao lâu thì không thể xác định được, nên thực tế có nhiều người làm chứng đã để rất lâu sau mới chịu lập văn bản ghi nội dung di chúc miệng. Điều này đã gây ra khó khăn cho tòa án trong việc thẩm định giá trị của di chúc miệng và muốn bác bỏ nó thì cũng thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng. Như vậy, BLDS 1995 đã có sự điều chỉnh các quy định về thừa kế theo di chúc cho phù hợp với thực tiễn.
Tăng cường về kỹ thuật lập pháp, sửa đổi một số từ ngữ, tách một số phần trong các điều của Pháp lệnh thành các điều luật khác nhau. BLDS 1995 bổ sung thêm các điều luật về di chúc, quyền của người lập di chúc, quyền thừa kế quyền sử dụng đất, người quản lý di sản.BLDS 1995 đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn xã hội, tăng cường công tác xét xử của cơ quan Tòa án giải quyết nhanh chóng có hiệu quả các tranh chấp về thừa kế theo di chúc. Trong vòng 10 năm thực hiện BLDS 1995 về các quy định về thừa kế theo di chúc, thực tiễn cho thấy cần phải có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội. BLDS 2005 ra đời đã khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh về thừa kế 1990 và BLDS 1995.
Sự phát triển của chế định thừa kế trong BLDS 2005 So với BLDS 1995, các quy định về thừa kế trong BLDS 2005 đã có nhiều điểm mới. Về cơ cấu, bố cục của các chương mục và số lượng các điều luật không có sự thay đổi lớn, ngoài việc tăng thêm một số điều luật mới (Điều 687). Về nội dung có một số điểm mới sau: Phần những quy định chung có tất cả 14 điều, nhưng có 7 điểm mới được sửa đổi, bổ sung. Ngoài sửa đổi mang tính kỹ thuật tại Điều 635 thì việc sửa đổi, bổ sung trong 6 trường hợp còn lại đã làm thay đổi căn bản về nội dung các điều luật.
Về di sản thừa kế, có một số sửa đổi. Khoản 2 Điều 637, BLDS 1995 qui định quyền sử dụng đất là một loại di sản thừa kế. Điều 634 BLDS 2005 bỏ qui định 22 tại khoản 2 của Điều luật tương ứng và chỉ qui định thành 1 đoạn: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Điều này không có nghĩa là từ nay, pháp luật không thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại di sản.
Quyền sử dụng đất vẫn là một loại di sản thừa kế vì theo BLDS 2005 và Luật Đất đai 2003 thì quyền sử dụng đất là một loại tài sản và được để lại thừa kế. Đồng thời, việc thừa kế quyền sử dụng đất dần dần đã được xã hội chấp nhận. Vì thế, BLDS 2005 không cần thiết phải qui định thêm về di sản là quyền sử dụng đất. Sự sửa đổi này là tích cực và tiến bộ hơn về kỹ thuật lập pháp so với Luật cũ vì nó làm cho điều luật trở nên tinh gọn hơn nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật.
Về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, BLDS 1995 qui định người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trong “phạm vi di sản” mà họ được hưởng. BLDS 2005 đã bổ sung cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” vào cuối khoản 1 và cuối khoản 3. Về nguyên tắc, nghĩa vụ của người thừa kế đối với khoản nợ do người chết để lại vẫn nằm trong giới hạn và theo tỷ lệ di sản mà họ nhận được từ người chết, nhưng phạm vi này có thể không tương ứng với tỷ lệ di sản, thậm chí có thể lớn hơn phần di sản mà người thừa kế thực tế được hưởng, nếu các bên có thỏa thuận khác. Quy định này vừa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của những người thừa kế và quyền lợi chính đáng của chủ nợ.
Về quyền từ chối nhận di sản thừa kế, khoản 3, điều 642, BLDS 2005 bổ sung qui định: “Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế”. Bổ sung này không làm thay đổi tinh thần Điều luật, nhưng làm rõ hơn tính chất “mặc nhiên” và “tự động” của quyền thừa kế; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để xác định những vấn đề có liên quan trong việc giải quyết nợ của người chết, xác định kỷ phần thừa kế bắt buộc, tiến hành các thủ tục phân chia di sản, xác định tư cách tố tụng trong việc kiện chia di sản… Việc bổ sung điều luật là một trong những yếu tố giúp cơ quan xét xử giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc trong thực tiễn. 23 Về di sản không có người thừa kế thì thuộc về Nhà nước, điều 647, BLDS 1995 qui định Nhà nước hưởng di sản không có người thừa kế nhưng Nhà nước không phải là người thừa kế sau cùng. Tuy nhiên, Điều luật đã không qui định rõ là Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu và vận dụng không nhất quán.
Nhiều trường hợp, cơ quan chức năng không quan tâm đến nghĩa vụ của người chết đối với người khác, nên đã làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan. Khắc phục điểm yếu này, Điều 644 BLDS 2005 bổ sung như sau: “Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước.” Qui định này vẫn không làm thay đổi nguyên tắc Nhà nước được hưởng di sản không người thừa kế, nhưng xác định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi nhận di sản không người thừa kế: phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, qua đó thể hiện sự tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan đến di sản. Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, điều 648 BLDS 1995 không qui định về thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại.