CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CĂN CỨ HOÃN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của căn cứ hoãn thi hành án dân sự 1. Khái niệm về căn cứ hoãn thi hành án dân sự Theo Từ điển Tiếng Việt: “thi hành” có nghĩa là làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định.
Ở góc độ thuật ngữ, “thi hành” là “làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định”5, “án” là “vụ phạm pháp hoặc tranh chấp quyền lợi cần được xét xử trước toà án”6, từ “án” còn là cách nói tắt bản án, quyết định của Toà án. Theo giải thích của Từ điển Luật học, thi hành án là “giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật”7. Như vậy theo cách hiểu này THADS là một giai đoạn của quá trình tố tụng, là hoạt động làm cho bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực trên thực tế; được cơ quan thuộc Chính phủ (Bộ Tư pháp) đảm bảo thi hành. Bản chất của hoạt động THADS là nhằm khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo luật định và quyền tự định đoạt của đương sự.
Ở góc độ văn bản pháp luật về thi hành án dân sự, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra giải thích từ ngữ về khái niệm này. Theo quy định tại Điều 1 Luật Thi hành án dân sự: Hoạt động thi hành án dân sự nhằm mục đích “Thi hành Bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong Bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định của Toà án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Ủy ban cạnh tranh quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại”8. 5 Trung tâm từ điển học (1994), Từ điển Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 6 Trung tâm từ điển học (1994), tlđd (6), tr.
7 Nguyễn Hữu Huỳnh (1999), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr. 8 Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế - Luật (2020), “Giáo trình Luật Thi hành án dân sự” – NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr-2. 11 Theo nghĩa pháp lý, hoạt động thi hành án dân sự được định nghĩa là hoạt động tư pháp nhằm thi hành các bản án, quyết định có liên quan đến dân sự được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật. Thi hành án là: “Hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án”.9 Do đó, Thi hành án dân sự là khái niệm dùng để chỉ: “Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án”10.
Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động mang bản chất hành chính – tư pháp tuy nhiên có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau tuỳ từng trường hợp khác nhau nhưng cơ bản gồm: người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan và cơ quan thi hành án hoặc người được Nhà nước giao thẩm quyền thực hiện hoạt động thi hành án. Mỗi cá nhân, cơ quan tham gia đều phải tuân thủ quyền và nghĩa vụ theo luật định. Theo cách hiểu thông thường, “hoãn” có nghĩa là “làm tạm ngừng hoặc làm cho phải tạm ngừng lại trong một khoảng thời gian”11. Định nghĩa này nói lên bản chất của hoạt động hoãn làm cho một hoạt động tạm ngừng.
Với cách hiểu trên thì thời gian hoạt động ngừng là tạm thời (trong một khoảng thời gian). Ở góc độ từ ngữ pháp lý thì “hoãn thi hành án” được hiểu là “tạm ngừng việc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật trong những trường hợp do pháp luật quy định”12. Cách hiểu này cho thấy được việc hoãn phải dựa trên cơ sở pháp luật quy định chứ không được tùy tiện chấm dứt việc thi hành án. Tuy nhiên định nghĩa này chưa thể hiện rõ thời gian tạm ngừng việc thi hành là bao lâu, có thời hạn hay vĩnh viễn.
Hoãn thi hành án dân sự là một thủ tục trong số các thủ tục được quy định trong Luật THADS năm 2014 mà cơ quan THADS thường áp dụng để tạm dừng hoạt động thi hành án, chấm dứt trách nhiệm của CHV đối với việc THA. Thủ tục này được quy định tại Điều 48 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 9 Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học, tr. 10 Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học, tr. 11 Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng, tr.
12 Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Thuật ngữ pháp lý - Tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. Đánh giá chung cho thấy các quy định của pháp luật THADS hiện nay về hoãn THA chỉ mới điều chỉnh về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và các căn cứ để CHV, cơ quan THADS áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫn chưa đưa ra bất kỳ giải thích thế nào là hoãn THADS. Điều này dẫn đến khó khăn để hiểu chính xác ý nghĩa, bản chất của hoạt động này.
Theo tác giả, Luật THADS, các văn bản hướng dẫn thi hành cần đưa ra định nghĩa về hoãn THADS để thống nhất trong cách hiểu. Do đó, tác giả đưa ra khái niệm như sau: “Hoãn thi hành án dân sự là việc tạm ngừng việc tổ chức thi hành bản án, quyết định khi có căn cứ do pháp luật quy định; chuyển việc thi hành bản án, quyết định dân sự sang thời điểm khác muộn hơn thời điểm đã định”. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, đôi khi xuất hiện một số sự kiện làm cho hoạt động thi hành án không thể tiếp tục thực hiện bởi việc này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động thi hành án; buộc phải tạm dừng việc tổ chức thi hành án. Các trường hợp làm phát sinh sự kiện nêu trên, được pháp luật THADS quy định được xác định là căn cứ để cơ quan thi hành án quyết định hoãn thi hành án dân sự.
Theo Từ điển Tiếng Việt: có rất nhiều cách định nghĩa về “căn cứ”, nhiều từ loại (danh từ, động từ). Khi nghiên cứu về thi hành án, tác giả đó sử dụng cách định nghĩa về căn cứ như sau: “Căn cứ là cái làm chỗ dựa, làm cơ sở để lập luận hoặc hành động”. Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra định nghĩa về căn cứ hoãn THADS như sau: “Căn cứ hoãn thi hành án dân sự là những tình tiết, sự kiện làm cho hoạt động thi hành án dân sự không thể tiếp tục được tiến hành, mà cần phải tạm dừng lại, được pháp luật thi hành án dân sự quy định, khi có những tình tiết, sự kiện đó, cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định hoãn việc thi hành án đang tổ chức thi hành trong thời hạn nhất định. Đặc điểm của căn cứ hoãn thi hành án dân sự Khi đề cập đến bản chất của hoạt động THADS, trong khoa học pháp lý hiện nay tồn tại nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về bản chất của hoạt động này.
Hoạt động THADS mang tính tư pháp, thể hiện ở việc đa phần các hoạt động THADS đều hướng đến việc thực hiện các nghĩa vụ về tài sản, trực tiếp tác động đến tài sản của các đương sự. Mặt khác, hoạt động THADS gắn liền với hoạt động xét xử, cùng hướng đến mục đích nhằm “phục vụ tốt nhiệm vụ xét xử của Toà án”13, nhằm làm bản án, quyết định của toà án có hiệu lực trên thực tế. Tác giả cho rằng bản chất hành chính – tư pháp trong hoạt động THADS của cơ quan THADS hiện hành là phù hợp với thực tiễn hơn cả, nếu tách rời hai yếu tố này sẽ không thực sự chính xác khi nói về bản chất của hoạt động THADS. Quá trình giải quyết vụ việc dân sự kết thúc bằng một bản án, quyết định của Toà án.
Do đó, có thể định nghĩa: Thi hành án là quá trình diễn ra sau hoạt động xét xử của Toà án. Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án. Khi xác định một sự kiện có thể phát sinh có thể làm cho hoạt động thi hành án không thể tiếp tục thực hiện bởi sự kiện này, hoặc có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án thì sự kiện trên được xem là cơ sở để tạm ngừng việc tổ chức thi hành bản án, quyết định. Căn cứ hoãn THADS có các đặc điểm riêng để phân biệt với các hoạt động, thủ tục THADS khác được quy định trong Luật THADS năm 2014, mà cụ thể là hoạt động đình chỉ, tạm đình chỉ THADS.
Qua nghiên cứu, căn cứ hoãn THADS có các đặc điểm sau: Thứ nhất, căn cứ hoãn THADS là một thủ tục được cơ quan THADS tiến hành khi tổ chức thi hành việc thi hành án nhằm làm tạm dừng việc thi hành án khi có căn cứ luật định. Thủ tục THADS được hiểu toàn bộ các bước, trình tự, thủ tục để đưa một bản án, quyết định của Toà án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành theo quy định của pháp luật. Luật THADS năm 2014 quy định rất rõ 13 Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII. 14 ràng về căn cứ, trình tự thủ tục, thẩm quyền hoãn thi hành án14.
Theo đó, khi thi hành bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, cơ quan THADS căn cứ vào các quy định này để thực hiện việc hoãn thi hành án khi có căn cứ luật định. Thứ hai, căn cứ hoãn THADS chỉ được tiến hành sau khi có Quyết định THA.