CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Những vấn đề chung liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng công trình 1. Sự phát triển về công tác đầu tư xây dựng ở Việt Nam trong thời gian qua Giai đoạn trước năm 1954 Thực dân Pháp đã xây dựng một số công trình phục vụ cho mục đích thống trị và khai thác tài nguyên ở nước ta. Các công trình đó là nhà máy dệt Nam Định, nhà máy in Hà Nội, nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy điện – nước Yên Phụ, cầu Long Biên các cở sở hạ tầng kỹ thuật ở một số thành phố như giao thông đường sắt, đường bộ, cầu.
Ngoài ra thực dân Pháp còn xây dựng một số công trình công cộng như bệnh viện XanhPôn, Nhà hát lớn. Các công trình kiến trúc như: Văn miếu Quốc Tử Giám, Lăng tẩm cung điện cố đô Huế, đô thị cổ Hội An, khu tháp Chim PôPơlênh Crai là những di sản văn hóa của dân tộc. Trong đó cung điện ở cố đô Huế, đô thị cổ Hội An, khu tháp Mỹ Sơn ở Quảng Nam là những di sản văn hóa thế giới. Giai đoạn 1954 – 1975 Hòa bình lập lại ở miền Bắc, Nhà nước đã chú ý xây dựng, mở mang hệ thống giao thông, thủy lợi, như: Nhà máy gang thép Thái Nguyên, nhà máy Công cụ số 1, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, nhà máy Thuỷ điện Thác Bà, công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải.
Giai đoạn từ 1976 – 1986 Thời kỳ thống nhất đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh vì cải tạo kinh tế miền Nam. Nhà nước mới có điều kiện tập trung vốn vào XDCB ngày càng nhiều. Do trình độ quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều hạn chế nên hiệu quả đầu tư còn rất thấp. Một số công trình trọng điểm đã được xây dựng là nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nhà máy xi măng Hoàng Thạch, công trình Thuỷ điện Hòa Bình, nhà máy xi măng Bỉm Sơn.
4 Giai đoạn 1986 – 2000 Thời kỳ đổi mới toàn diện nền kinh tế quốc dân, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì ngành công nghiệp xây dựng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trên các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Tốc độ và quy mô đầu tư toàn xã hội ngày càng cao, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP. Thực hiện chính sách nền kinh tế mở và khuyến khích các hoạt động đầu tư nước ngoài. Nên trong giai đoạn này chúng ta đã thực hiện hàng trăm dự án đầu tư xây dựng như: Các khu công nghiệp Bình Dương, Đồng Nai, Dung Quất công nghiệp liên doanh dầu khí VIETXOPETRO, các công trình thuộc ngành năng lượng như: đường dây tải điện 500KV Bắc Nam, nhà máy thủy điện Yaly ở Gia Lai – Kon Tum, nhà máy khí nén Phú Mỹ ở Bà Rịa Vũng Tàu, các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: cầu, đường và nhiều khu đô thị mới v.v, đã làm tăng thêm đáng kể cơ sở sản xuất năng lực phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.
Tính đến hết năm 1997 toàn quốc có 45 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất, chiếm 7000ha, 453 doanh nghiệp chiếm 9 vạn lao động. Đến năm 2000 toàn quốc có 67 khu công nghiệp và chế xuất chiếm 11000ha. Nhìn chung các công trình xây dựng của thập kỷ 90 ngày càng có quy mô lớn, trình độ kỹ thuật cao, hiệu quả của vốn đầu tư và sản xuất xây dựng ngày càng cao. Giai đoạn từ năm 2000 tới nay Từ năm 2000 đến nay, cùng với nền kinh tế cả nước trên đà phát triển mạnh và hội nhập sâu hơn, rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ngành xây dựng đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các chiến lược, Quy hoạch và Kế hoạch phát triển dài hạn trong các lĩnh vực của ngành như: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển các đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, vùng tỉnh và các đô thị; Quy hoạch tổng thể phát triển VLXD, xi măng, cùng với các chiến lược, định hướng về cấp nước, thoát nước, quản lý chất thải rắn đô thị.Trên phạm vi cả nước với mục tiêu đảm bảo sự phát triển ngành xây dựng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng phát triển bền vững.
5 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực của ngành xây dựng và nhiều cơ chế, chính sách về hoạt động xây dựng đã được tập trung xây dựng để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, đảm bảo phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7, ngày 18/6/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 là sự kiện quan trọng nhất của ngành xây dựng Việt Nam, tạo lập khuôn khổ pháp lý và động lực thúc đẩy các hoạt động đầu tư xây dựng công trình, hình thành thị trường xây dựng với quy mô ngày càng rộng lớn, đa dạng, phong phú, đã làm cho các hoạt động xây dựng đi dần vào kỷ cương, nền nếp, chất lượng xây dựng được đảm bảo. Cùng với Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Quy hoạch đô thị cũng đã được ban hành và có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản. Trong những năm qua, Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo hoàn thành, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, ngoài ra các Bộ cũng đã ban hành theo thẩm quyền nhiều Thông tư, Quyết định thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.
Trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng tiếp tục được đổi mới một cách căn bản, toàn diện theo cơ chế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hệ thống quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng được ban hành cho tất cả các lĩnh vực xây dựng, các đối tượng tiêu chuẩn hóa đã bao quát hầu hết các hoạt động xây dựng. Hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật trong xây dựng được hoàn thiện cơ bản theo hướng nhà nước quản lý định mức kinh tế - kỹ thuật, thị trường quyết định giá cả để phù hợp với thực tế thi công xây dựng, tiến tới thực hiện giá cả xây dựng theo thị trường. Chất lượng luôn là vấn đề sống còn của ngành xây dựng, để có những công trình có tầm cỡ cho ngày hôm nay và tương lai, những năm qua, ngành xây dựng luôn coi trọng công tác quản lý chất lượng công trình.
Hầu hết các công trình, hạng mục công trình được đưa vào sử dụng trong thời gian qua đều đáp ứng yêu cầu về chất lượng, phát huy đầy đủ công năng sử dụng theo thiết kế, đảm bảo an toàn trong vận hành và phát huy tốt hiệu quả đầu tư. 6 Các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng hoặc nhận thầu xây dựng ở hầu hết các công trình trọng điểm nhà nước, các công trình quan trọng của Quốc gia, của các Bộ, ngành, địa phương, của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, đó là những công trình nhà cao tầng tại các khu đô thị mới như: Linh Đàm, Trung Hòa - Nhân Chính, Mỹ Đình. các nhà thi đấu thể thao, công trình hầm đèo Ngang, hầm ngầm nhà cao tầng; Trung tâm Hội nghị Quốc gia, công trình khí điện đạm Cà Mau, Khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất, Nhà Quốc hội, Thủy điện Sơn La, Lai Châu. Trong đó đáng chú ý là công trình Thủy điện Sơn La đã hoàn thành, về trước tiến độ 03 năm, đã làm lợi cho đất nước khoảng 500 triệu USD mỗi năm.
Khái quát về quy trình và trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng 1. Khái quát về quy trình đầu tư xây dựng cơ bản Trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng quy định hiện hành thể hiện rõ nhiệm vụ, trách nhiệm quyền hạn của các bên chủ đầu tư, cơ quan quyết định đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan quản lý vốn, nhà thầu trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản. Trên cơ sở quyết định phê duyệt chủ trương thực hiện dự án và các tài liệu, văn bản pháp lý có liên quan; đồng thời căn cứ kế hoạch vốn được bố trí cho dự án cùng các điều kiện về mặt bằng xây dựng, thỏa thuận quốc tế (đối với dự án ODA). chủ đầu tư tổ chức thực hiện dự án, đảm bảo tuân thủ đúng các thủ tục theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 tại Khoản 1 Điều 50 “Trình tự đầu tư xây dựng” [2] ; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 tại Điều 6 “Trình tự đầu tư xây dựng” [6], cụ thể như sau: 7 Chiến lược KTXH Đề xuất đầu tư Quy hoạch Giai đoạn chuẩn bị đầu tư Địa điểm xây dựng Thẩm định dự án đầu tư Dự án khả thi Thẩm định thiết kế Đất đai cơ sở Lập thiết kế kỹ thuật Kế hoạch đầu tư năm Thẩm định TKKTDT Giải phóng Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư mặt bằng, tái định cư Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu ự Ký kết hợp đồng Thi công xây dựng, lắp đặt Giai đoạn 3 : Kết thúc đầu tư Nghiệm thu bàn giao Hình 1.1: Sơ đồ trình tự thực hiện đầu tư xây dựng 8 1.
Quy trình và thủ tục trong đầu tư xây dựng công trình [6] (1) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư Theo nhu cầu thực tế và chiến lược phát triển kinh tế xã hội Chủ đầu tư (hoặc cơ quan quản lý Nhà nước) lập đề xuất đầu tư dự án, từ đó là cơ sở tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, trong đó phải: Lựa chọn sơ bộ về địa điểm xây dựng; quy mô dự án; vị trí, loại và cấp công trình chính. Hồ sơ Bản vẽ thiết kế sơ bộ tổng mặt bằng dự án; mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt công trình chính của dự án. Các Bản vẽ và thuyết minh sơ bộ giải pháp thiết kế nền móng được lựa chọn của công trình chính. Sơ bộ về dây chuyền công nghệ, thiết bị công nghệ (nếu có) và khái toán đầu tư.
Sau khi lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Chủ đầu tư trình cơ quan quản lý Nhà nước để tiến hành thẩm định hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả.