đặt vấn đề là quyền số chi tiêu của lương thực…Cuộc tranh luận chuyển sang tại sao gọi tăng giá là lạm phát?”(Vũ Quang Việt, 2004) Lạm phát chỉ bắt đầu được quan tâm và tính toán kể từ lúc nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường vào năm 1986. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát. Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm sức mua của đồng tiền. Điều này có nghĩa là “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu dùng mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ.
Milton Friedman đóng vai trò là người sáng lập ra trường phái tiền tệ cho rằng “lạm phát ở mọi lúc mọi nơi luôn luôn là hiện tượng của tiền tệ”. Phát biểu này đã không những tạo danh tiếng cho chính ông mà còn là danh tiếng cho trường phái tiền tệ. Nhưng phát biểu này cũng thường được nhắc đến bởi không phải ai cũng vội vàng tin rằng lạm phát chỉ đơn giản bắt nguồn từ cung tiền. Thực tế đã chứng minh nhiều cuộc lạm phát xảy ra xuất phát từ một cú sốc bên ngoài nền kinh tế như cú sốc dầu mỏ năm 1973-1974 và 1979-1980, hay xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng cung của nền kinh tế.
Theo quan điểm của J.Keynes thì lạm phát không phải là một hiện tượng tiền tệ. Ông cho rằng “lạm phát là sự vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, là sự phát hành tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường xuyên”. Lý thuyết Keynes là hệ thống lý luận kinh tế vĩ mô lấy tác phẩm Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (thường được gọi tắt là Lý thuyết tổng quát) của J.M Keynes (1883-1948) làm trung tâm và lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm nền tảng. Nguyên lý cầu hữu hiệu khẳng định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định.
Do đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu công cộng), thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi thời kỳ suy thoái. Bùi Thị Ngọc 7 K42F4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại Vào những năm gần đây, sự khác biệt giữa các trường phái ngày càng thu hẹp. Sự hợp tác manh mún tạo ra một giai đoạn mới trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Các nhà kinh tế thường sử dụng khái niệm chung về lạm phát như sau: Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian.
Mức giá trung bình được hiểu là mức giá chung của tất cả hàng hóa và dịch vụ. Mức giá chung này được đo bằng chỉ số giá. Thước đo lạm phát Muốn đánh giá mức độ lạm phát thì ta dựa vào chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát. Tỷ lệ lạm phát là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ tăng thêm hay giảm bớt của giá cả ở một thời điểm nào đó so với thời điểm trước.
Nếu lấy chỉ số giá là tỷ lệ thay đổi giá so với thời điểm gốc thì tỷ lệ lạm phát được tính theo công thức sau: Chỉ số giá thời điểm (t) - Chỉ số giá thời điểm (t-1) Tỷ lệ lạm phát thời điểm (t) = Chỉ số thời điểm (t-1) Nếu lấy chỉ số giá là tỷ lệ thay đổi so với thời điểm thời điểm trước thì tỷ lệ lạm phát được tính theo công thức: Tỷ lệ lạm phát thời điểm (t) = Chỉ số giá thời điểm (t) – 100 Hai thước đo thông dụng để phản ánh tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh (GDP). - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một tỷ số phản ánh giá của hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của hàng hóa đó trong năm gốc và được tính theo công thức: - Chỉ số điều chỉnh (GDP): là một chỉ số có mức độ bao phủ rộng nhất. Nó bao gồm tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hóa và dịch vụ vào giá trị gia tăng và được tính theo công thức: Trong đó, qi là lượng hàng hóa, pi là giá các mặt hàng, t là năm hiện hành, 0 là năm gốc. Bùi Thị Ngọc 8 K42F4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại MỘT SỐ LÝ THUYẾT CỦA LẠM PHÁT TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP Phân loại lạm phát Dựa vào tỷ lệ lạm phát các nhà kinh tế thường chia thành 3 loại: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát.
Lạm phát vừa phải: Là loại lạm phát một con số, tỷ lệ giá thấp, dưới 10%. Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tăng chậm, thường xấp xỉ bằng mức tiền lương hoặc cao hơn chút ít. Do vậy giá trị tiền tệ tương đối ổn định, tạo thuận lợi cho môi trường kinh tế xã hội, tác hại của lạm phát này thường không đáng kể. Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hay 3 con số trong một năm.
Loai lạm phát nay khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong thập niên 1980 nhiều nước đã lâm vào tình trạng lạm phát phi mã đến 600 – 700% trong đó có Việt Nam. Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã. Lạm phát ở Đức năm 1922 – 1923 là hình ảnh siêu lạm phát điển hình trong lịch sử lạm phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần.
Gần đây nhất năm tháng 10 năm 2008 lạm phát ở Zimbabwe tăng với tốc độ tên lửa, lên tới 231 triệu %. Một ổ bánh mì, giá hồi tháng 8 là 500 đôla Zimbabwe, nay lên đến khoảng 10. Siêu lạm phát có sức phá hủy mạnh toàn bộ hoạt động của nền kinh tế và thường đi kèm với những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc. Tuy nhiên chúng cũng ít khi xảy ra.
Nguyên nhân gây ra Lạm phát 2. Lạm phát cầu kéo (lạm phát do cầu) Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Trong thực tế khi lạm phát cầu kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hóa. Như vậy, bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được, trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng.
Tổng cầu: AD = C + I + G + X – M Do các thành phần chi tiêu gia tăng (bao gồm các yếu tố C, I, G, X) làm cho tổng cầu AD tăng, sản lượng tăng ít, còn giá tăng nhiều và gây ra lạm phát. Mô hình: Ban đầu nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng ở E(P0; Y0 = Y*) Bùi Thị Ngọc 9 K42F4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại Khi chính phủ sử dụng CSTK mở rộng hoặc do đầu tư tăng mạnh AD tăng -> AD’ Trạng thái cân bằng mới được xác định tại E’(P’; Y’) Nền kinh tế có tăng trưởng (Y’> Y0 = Y*) nhưng tốc độ tăng giá (P’>P0) hay lạm phát lớn hơn tốc độ tăng trưởng -> Cầu kéo giá. Lạm phát do cầu kéo 2. Lạm phát chi phí đẩy (lạm ASphát L do cung) AS Đó là một đặc điểm của lạm phát hiện đại.
Kiểu lạm phát này gọi là lạm phát chi phí đẩy, vừa lạm phát vừa suy giảm sản lượng, tăng thêm thất nghiệp nên cũng còn gọi là “lạm phát đình trệ”. Khi giá P’ đầu vào tăng (nguyên nhiên E’ vật liệu như: xăng dầu, điện nước…; tiền lương, tiền công tăng) làm cho tổng cung AS giảm vàAD’ dẫn đến giá tăng gây ra lạm phát. P Mô hình: E AD Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại E(P0, Y0 = Y*) Y = Y* Y’ Y Giả sử chi phí đầu vào tăng -> AS giảm -> AS’ Trạng thái cân bằng mới được xác định tại E’ (P’; Y’) Đây chính là hình ảnh của nền kinh tế suy thoái (Y’< Y 0 = Y*; P’>P0) nhưng không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp (hình…) Bùi Thị Ngọc 10 K42F4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại P ASL chi phí đẩy Hình 2. Lạm phát AS’ 2.
Lạm phát dự kiến (lạm phát quán tính) AS Là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến rằng nó sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai. Tỷ lệ này thường được đưa vào các hợp đồng kinh tế, các kế hoạch hay là các thỏa thuận. Khi dự kiến được trước những biến động của P, ngoài hoạt động kinh tế có E’ thể được điều chỉnhP’lại cho hợp lý như điều chỉnh mức lãi suất danh nghĩa, tiền E công danh nghĩa, giáPtrong hợp đồng kinh tế cũng phải được điều chỉnh lại. Mô hình: Khi P đầu vào tăng làm cho tổng cung AS giảm (AS->AS 1->AS2).
Khi đó, chính Y’ Y = Y* Y phủ phải áp dụng các biện pháp để điều chỉnh và làm tăng tổng cầu AD với cùng một tốc độ (AD->AD1->AD2). Lúc này, giá tăng một cách đều đặn từ P 0>P1->P2 với mức sản lượng Y* không đổi. Bùi Thị Ngọc 11 K42F4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại P Hình 2. Lạm phát dự kiến YP Khi thu nhập tăng -> LP tăng và MS tăng (MS>LP thì lạm phát xảy ra).
Nếu LP = MS thì sẽ không gây ra lạm phát. Lạm phát tiền tệ AS2 E3 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát là các vi phạm qui luậtAS lưu 1 thông tiền tệ. Loại lạm phátP3này xảy ra khi tốc độ tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực P2 E2 sự của nền kinh tế. Lạm phát này thường xảy ra tại các nước AD3 đang phát triển khi các P1 nước này theo đuổi cơ chế áp chế tài chính hoặcAD đang theo đuổi chính sách tiền tệ E 1 2 mở rộng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mất AD1cân bằng cung cầu tiền tệ và thường là do: - Từ phía Chính phủ: Do xử lý thâm hụt ngân sách, Chính phủ vay dân thông qua phát hành trái phiếu nhưng vì thâm hụt kéo dài và tiền vay dân đến hạn phải trả nên buộc Chính phủ phải in thêm tiền để chi trả.