CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về rác thải nhựa (RTN) 1. Khái niệm Rác thải nhựa là cụm từ dùng để chỉ chung những sản phẩm làm bằng nhựa đã qua sử dụng hoặc không được dùng đến và bị đem vứt bỏ. Là những chất không được phân hủy trong nhiều môi trường.
Bao gồm nhiều loại chai lọ, túi đựng hay đồ chơi cũ… Chất thải nilon gồm các bao bì bằng nhựa polyethylene (PE) sau khi sử dụng trở thành rác thải. Trong rác thải sinh hoạt còn có các loại nhựa khác cũng có chứa các loại nhựa phế thải. Rác thải nilon thực chất là một hỗn hợp nhựa, trong đó chiếm phần lớn là nhựa PE.[15] Ô nhiễm rác thải nhựa (ô nhiễm chất dẻo) là hiện tượng tích tụ các đồ nhựa trong môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, sức khỏe con người và động vật.2 Các nguồn phát sinh rác thải nhựa Rác thải nhựa sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người và phát sinh ở các nguồn như sau: - Chất thải sinh hoạt của dân cư, du lịch, thực phẩm dư thừa: nilon, nhựa, chai nước nhựa… - Rác thải nhựa từ các chợ, địa điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu văn hóa,. - Rác thải nhựa từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học - Rác thải nhựa sinh hoạt của công nhân trong các công trình xây dựng, cải tạo và nâng cấp - Rác thải nhựa của công nhân trong nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp[15] 3 Hình 1.1 Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải nhựa 1.3 Đặc điểm, tính chất Do đặc điểm cấu trúc là các polyme tổng hợp nhân tạo (polystyrene, polyester, polyethylene.), nhựa là một dạng chất thải có tốc độ phân hủy trong môi trường rất chậm.
Thông thường những mảnh rác thải nhựa lớn sẽ bị phân nhỏ ra dưới các tác động cơ học thành các hạt nhựa nhỏ có kích thước dưới 5 mm (gọi là microplastic). Thông thường phải mất đến hàng trăm năm thậm chí cả hàng nghìn năm để một mảnh rác thải nhựa bị phân hủy hoàn toàn trong điều kiện tự nhiên. Với đặc tính bền vững trong tự nhiên như vậy, rác thải nhựa đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái biển, ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống của các loài sinh vật phù du, các loài rùa biển cũng như các loài chim biển. Nhựa là vật liệu rẻ tiền, nhẹ, mạnh, bền, chống ăn mòn, với đặc tính cách nhiệt và điện cao.
Sự đa dạng của các polyme và tính linh hoạt của các đặc tính của chúng được sử dụng để tạo ra một loạt các sản phẩm mang lại tiến bộ y tế và công nghệ, tiết kiệm năng lượng và nhiều lợi ích xã hội khác. Việc sản xuất nhựa đã tăng đáng kể trong 60 năm qua từ khoảng 0,5 triệu tấn năm 1950 lên hơn 260 triệu tấn hiện nay. Chỉ riêng ở châu Âu, ngành nhựa đã có doanh thu vượt quá 300 triệu euro và 1,6 triệu người sử dụng. Hầu như tất cả các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày liên quan đến nhựa, trong vận chuyển, viễn thông, quần áo, giày dép và làm vật liệu đóng gói.
Phụ gia đặc biệt quan tâm là chất hóa dẻo phthalate, BPA, chất làm 4 chậm cháy brôm và chất chống vi khuẩn. BPA và phthalates được tìm thấy trong nhiều sản phẩm được sản xuất hàng loạt bao gồm các thiết bị y tế, bao bì thực phẩm, nước hoa, mỹ phẩm, đồ chơi, vật liệu sàn, máy tính và đĩa CD và có thể đại diện cho một hàm lượng đáng kể của nhựa. Phthalates và BPA có thể phát hiện được trong môi trường nước, trong bụi và do tính dễ bay hơi của chúng trong không khí. Ngoài sự phụ thuộc vào nguồn lực hữu hạn cho sản xuất nhựa và những lo ngại về tác động phụ gia của các hóa chất khác nhau, các mô hình sử dụng hiện tại đang tạo ra các vấn đề quản lý chất thải toàn cầu.
Cho thấy rác thải nhựa, bao gồm bao bì, thiết bị điện và nhựa từ các phương tiện là thành phần chính của cả chất thải gia đình và chất thải công nghiệp. Vì vậy, từ nhiều góc độ, dường như việc sử dụng và thải bỏ nhựa hiện tại của chúng ta là nguyên nhân gây lo ngại [7] 1.4 Phân loại Hiện nay người ta phân loại nhựa thành nhiều loại. Do tính chất linh hoạt của chúng, nhựa được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp và ứng dụng. Tuy nhiên, các lĩnh vực chính mà nhựa được sử dụng phổ biến nhất là bao bì, đồ chơi, đồ dùng điện tử, xây dựng, vận tải mặt đất, hàng không và hàng hải, nông nghiệp, y tế, thể thao và giải trí.
Hình dưới đây trình bày một số loại nhựa cơ bản và ví dụ ứng dụng của chúng trong các đồ dùng cá nhân hằng ngày. 1 Bảng mô tả một số loại nhựa và ví dụ phổ biến của chúng Từ viết tắt Tên đầy đủ Ví dụ PET(PETE) Polyethylene terephthalate Chai nước ngọt PES Polyester Quần áo polyester PE Polyethylene Túi nhựa nylon HDPE High-density polyethylene Chai nhựa chất tẩy rửa PVC Polyvinyl chloridc Ống nước PP Polypropylene Vòi ống hút PA Polyamide( aka nylon) Bàn chải đánh răng PS Polystyrenne Hộp đựng thức ăn 5 1.5 Ảnh hưởng của rác thải nhựa đến môi trường và sức khỏe của con người 1.1 Ảnh hưởng đến môi trường Đồ nhựa luôn hiện diện ở mọi nơi xung quanh chúng ta. Từ những vật dụng nhỏ bé hàng ngày như giấy gói kẹo, hộp sữa chua, ống hút, túi nilon, hộp đựng thức ăn. Tuy đây đều là những phát minh phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày của con người.
Đồng thời hỗ trợ gia tăng buôn bán và sản xuất. Thế nhưng, sau tất cả các hoạt động này để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Các loại chất thải xả ra môi trường đang ảnh hưởng rất tiêu cực đến môi trường. Theo các nhà nghiên cứu thì phải mất từ 500 - 1000 năm túi ni lông mới bị phân huỷ trong môi trường tự nhiên.
Trong khi đó, lượng rác thải nhựa thải ra môi trường rất lớn, gần 1/3 số túi ni lông rác thải mỗi ngày không được thu gom, xử lý. Hậu quả là rác thải nhựa, túi ni lông có mặt ở khắp nơi gây mất mĩ quan đô thị, khi bị cuốn vào cống rãnh kênh rạch sẽ gây tắc nghẽn dòng chảy tạo nên các vùng nước đọng gây ô nhiễm môi trường nặng nề và là điều kiện để cho các loại dịch bệnh sinh sôi và phát triển đồng thời khiến tình trạng ngập của thành phố trở nên trầm trọng. Rác thải nhựa kể cả được thu gom đưa đi chôn lấp lẫn vào đất vẫn tồn tại hàng trăm năm. Làm thay đổi tính chất vật lý của đất.
Gây ô nhiễm đất, xói mòn đất, làm cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng, ngăn cản oxy đi qua đất. Ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng.[10] Vòng đời các sản phẩm nhựa dùng một lần thường rất ngắn trong khi đó việc sản xuất ra chúng tiêu tốn nhiều nguyên liệu từ dầu mỏ, sử dụng nhiều năng lượng và phát sinh nhiều khí thải. Đặc biệt, rác thải nhựa khi thải ra môi trường mà không xử lý đúng cách cũng sản xuất ra rất nhiều khí độc hại. Ví dụ như khi đốt nhựa không đúng quy chuẩn sẽ gây ô nhiễm môi trường không khí.
Tạo ra hiệu ứng nhà kính. Làm ảnh hưởng một cách tiêu cực đời sống của con người và sinh vật sống trên trái đất.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người Loại rác thải để lại hậu quả lâu dài nhất đối với sức khoẻ con người chính là nhựa. Nhựa có lẫn vào nước tạo thành các hạt vi nhựa làm ô nhiễm nguồn nước. Theo đó, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của con người.
Khi con người sử dụng để sinh hoạt cũng như ăn uống. Cụ thể hơn, bởi vì chúng có kích thước nhỏ nên có thể đi qua hàng rào nhau thai cũng như máu não. Đi vào đường tiêu hóa và phổi, những vị trí tiềm ẩn nguy cơ bị tổn thương. Đồng thời, các hạt nhựa có khả năng hấp phụ các vi sinh vật hay chất 6 ô nhiễm độc hại.
Khi vào cơ thể, chúng có thể gây stress oxy hóa các tế bào, dẫn đến kích hoạt nhiễm trùng, suy giảm hệ miễn dịch, rối loạn quá trình nội tiết. Rác thải nhựa rất khó phân hủy trong môi trường tự nhiên. Các loài động vật khi ăn phải rác thải nhựa có thể chết, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng, gây mất cân bằng sinh thái. Túi nilon, ống hút, cốc nhựa dùng một lần, hộp xốp, nước đóng chai nhựa… chủ yếu được tái chế từ những sản phẩm nhựa đã qua sử dụng, một số hóa chất có trong các sản phẩm nhựa này như: chất hoá dẻo, phẩm màu, chì, cadimi… sẽ thôi nhiễm vào thức ăn, sau đó được hấp thụ vào cơ thể người qua quá trình sử dụng.
Các hóa chất này tích tụ lâu ngày có thể gây ung thư, gây ảnh hưởng xấu đến phát triển não bộ ở trẻ, làm thay đổi mô, biến đổi nhiễm sắc thể, sẩy thai, dị tật bẩm sinh, thay đổi nội tiết tố và nhiều hệ luỵ khác cho sức khoẻ con người. Bisphenol-A (BPA) là một hoá chất nhân tạo được dùng trong sản xuất các sản phẩm làm bằng chất dẻo polycarbonate như hộp đựng thức ăn, bình sữa trẻ em, đồ chơi… Theo Chương trình quốc gia nghiên cứu về độc học và Cơ quan Quốc tế nghiên cứu về ung thư cho thấy, BPA là loại chất có khả năng gây ung thư cực cao, ngoài ra BPA còn có tác động làm não chậm phát triển, gây rối loạn nội tiết, vô sinh.[7] Do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng khiến lượng rác thải nhựa, túi ni lông thải ra môi trường ngày càng lớn, trong khi việc quản lý, thu gom, xử lý rác chưa kịp thời, nên hiện tượng đốt rác thải nhựa, túi nilon còn rất phổ biến. Khi được đốt ở ngoài môi trường sẽ tạo ra nhiều loại khí độc, trong đó có dioxin và furan là những chất cực độc có khả năng gây khó thở, ảnh hưởng tới tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá. Đặc biệt là có nguy cơ gây ung thư khi phơi nhiễm thường xuyên.[1] Túi nilon và các sản phẩm nhựa dùng một lần, chỉ sử dụng thời gian rất ngắn rồi vứt bỏ, nhưng các sản phẩm này có đặc tính lâu phân huỷ thì tác hại của nó lại vô cùng lớn không chỉ với sức khoẻ con người mà còn với môi trường, hệ sinh thái trên trái đất.
Thực trạng rác thải nhựa 1.