đặt vấn đề giảm thiểu rác thải nhựa lên hàng đầu để bảo vệ môi trƣờng cũng nhƣ điều kiện sống tốt nhất cho mọi ngƣời dân. Các giải pháp giảm thiểu rác thải nhựa là điều mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, luôn dành nhiều thời gian để cải thiện và phát triển, sao cho các giải pháp mang đến hiệu quả tốt nhất. Các biện pháp giảm thiểu rác thải nhựa hiệu quả không chỉ đem lại lợi ích trong việc bảo vệ môi trƣờng, giảm ô nhiễm mà còn có thể giúp Nhà nƣớc tiết kiệm các nguồn nguyên, nhiên liệu, năng lƣợng hoặc các tài nguyên thiên nhiên nhƣ nƣớc, đất, cây xanh, và thậm chí là tiết kiệm nguồn tài chính. Vì vậy, bên cạnh việc tìm hiểu về thực trạng rác thải nhựa trong ngành dịch vụ ăn uống (F&B), luận văn cũng tập trung tìm kiếm và đề xuất các phƣơng án, giải pháp giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần, cũng nhƣ hạn chế tối đa lƣợng rác thải nhựa bị thải ra môi trƣờng, để góp phần giữ gìn môi trƣờng 3 sống, xây dựng một quốc gia xanh – sạch hơn và hƣớng tới phát triển bền vững trong tƣơng lai.
Tổng quan tình hình nghiên cứu. Các vấn đề về ô nhiễm rác thải nhựa luôn đƣợc các quốc gia, các nền kinh tế trên thế giới đặt lên hàng đầu, vì những tác hại, ảnh hƣởng mà nó gây ra cho môi trƣờng sống của con ngƣời và các loại động vật, sinh vật trên Trái đất là không nhỏ. Các quốc gia trên Thế giới dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển đều đặt mục tiêu giảm thiểu cũng nhƣ quản lý, xử lý rác thải nhựa là nhiệm vụ quan trọng để đƣa nền kinh tế phát triển theo hƣớng bền vững hơn trong tƣơng lai. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết đề cập đến việc quản lý và giảm thiểu rác thải nhựa không chỉ trong nƣớc mà cả ở nƣớc ngoài.1 Nghiên cứu trong nước.
Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật, “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn nylon tại thành phố Đà Nẵng” của tác giả Trần Thị Kiều Ngân (2012), đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau nhƣ lấy mẫu, phỏng vấn, thống kê, phân tích thông tin, để nhằm làm rõ về hiện trạng thực tế trong việc sử dụng và thu gom rác thải nhựa thƣờng ngày của ngƣời dân thành phố Đà Nẵng. Kết quả khảo sát cho thấy có sự tỷ lệ thuận giữa mức sử dụng, phát thải với mức thu nhập, với trình độ học vấn và với số lƣợng nhân khẩu. Bên cạnh đó cũng thu đƣợc các kết quả nhƣ nhóm có trình độ học vấn ở mức đại học cũng là nhóm có mức phát thải cao nhất, và các loại chất liệu túi nylon đƣợc sử dụng phổ biến nhất là các loại túi nylon màu-mỏng, cũng là các loại túi nylon không thể tái chế. Thông qua các kết quả đó, tác giả để xuất một số giải pháp, biện pháp để quản lý rác thải nhựa hiệu quả hơn nữa.
Nghiên cứu “Thực trạng phát sinh rác thải nhựa trong trường học – Nghiên cứu điển hình tại Trường Đại học Cần Thơ” của Nguyễn Công Thuận và cộng sự (2021), đã tập trung xác định về thực trạng phát sinh rác thải nhựa tại trƣờng đại học Cần Thơ. Thông qua các phƣơng pháp quan sát và phỏng vấn các cán bộ, ngƣời học và ngƣời kinh doanh dịch vụ trong khuôn viên trƣờng, tác giả rút ra các kết quả về thực trạng rác thải nhựa nhƣ rác thải nhựa chiếm 14,4% trong tổng số lƣợng rác 4 thải là 9,6 tấn/ngày. Trong đó túi nhựa (loại LDPE) có tỷ lệ phát sinh nhiều nhất cả về số lƣợng và khối lƣợng. Từ đó tác giả đề xuất các biện pháp để giảm thiểu rác thải nhựa tại trƣờng Đại học Cần Thơ.
Nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng phát sinh và đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý rác thải nhựa tại phường Thượng Cát, thành phố Hà Nội” của Đào Văn Hiền và cộng sự (2021), tập trung tìm hiểu về thực trạng phát sinh rác thải nhựa tại phƣờng Thƣợng Cát, thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy lƣợng rác thải nhựa chiếm 13,5% trong khối lƣợng chất thải rắn sinh hoạt, tƣơng đƣơng 1508kg/ngày. Theo khối lƣợng, rác thải nhựa của khu dân cƣ là 620,88 kg/ngày, chiếm 41,2% và rác thải nhựa khu chợ là 452,6 kg/ngày, chiếm 30% lƣợng rác thải nhựa của toàn phƣờng. Khối cơ quan, công sở phát sinh rác thải nhựa thấp nhất, tƣơng đƣơng 112,5 kg/ngày.
Theo tỷ lệ rác thải nhựa trong rác thải sinh hoạt, khu dân cƣ là thấp nhất chiếm 10,6%, khu chợ là cao nhất chiếm 21,6%. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt khá cao đạt 93,2% trong khi đối với rác thải nhựa, tỷ lệ thu gom chỉ đạt 80,6%. Từ đó tác giả đề xuất phƣơng án quản lý rác thải nhựa tại phƣờng Thƣợng Cát, thành phố Hà Nội nói riêng và cho các địa phƣơng trên cả nƣớc nói chung. Nghiên cứu “Khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức, hành vi của sinh viên về thói quen phân loại rác và sử dụng nhựa dùng một lần” của tác giả Phạm Thị Dƣơng và Đinh Thị Thuý Hằng (2022), đã khảo sát về nhận thức và thói quen phân loại cũng nhƣ sử dụng nhựa dùng một lần của sinh viên Trƣờng Đại học Hàng hải Việt Nam.
Kết quả khảo sát chỉ ra có đến 95,85% các sinh viên đều có hiểu biết về tác hại của nhựa một lần, thói quen sử dụng nhựa vẫn còn khá cao (55,2% sinh viên có thói quen sử dụng hộp xốp hàng ngày, 67,2% sinh viên sử dụng chai nƣớc nhựa hàng ngày, 91,3% sinh viên sử dụng túi nylon hàng ngày). Tuy nhiên cũng có một vài kết quả khả quan khi có đến 73,6% sinh viên ủng hộ việc đánh thuế dối với các quán ăn, nhà hàng có sử dụng đồ nhựa dùng một lần, 63,7% sẵn sàng chi trả phí khi sử dụng nhựa dùng một lần, 79,2% sẵn sàng sử dụng sản phẩm xanh thay thế. Từ thực tế đó, nghiên cứu đồng thời cũng đƣa ra 04 đề xuất góp phần nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi, thói quen sử dụng nhựa một lần trong sinh viên. 5 Nghiên cứu “Đánh giá nhận thức và hành vi của người tiêu dùng liên quan đến phát sinh rác thải nhựa tại TP.Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Mai Thảo và các cộng sự (2021), đã sử dụng phƣơng pháp điều tra, phỏng vấn một số lƣợng ngƣời dân nhất định ở các độ tuổi, ngành nghề, giới tính khác nhau, qua đó rút ra những thông tin về nguồn gốc phát sinh, khối lƣợng, thành phần và các hình thức xử lý rác thải nhựa.
Từ phƣơng pháp phỏng vấn cũng có thể thấy đƣợc nhận thức của ngƣời dân về rác thải nhựa, kết quả cho thấy có đến 97,6% ngƣời đƣợc phỏng vấn đều có hiểu biết về rác thải nhựa. Bên cạnh đó số ngƣời chọn ƣu tiên các sản phẩm có thể tái sử dụng hoặc tái chế chiếm 85,8% và không ƣu tiên sử dụng các sản phẩm này là 14,2%. Liên quan đến phƣơng thức xử lý sản phẩm nhựa sau khi đã sử dụng, 52,6% ngƣời đƣợc khảo sát chọn hình thức tái sử dụng; 40,5% tỷ lệ ngƣời chọn hình thức thải bỏ và còn lại 6,9% chọn gom chung với các loại rác thải khác và đem đi đốt. Từ thực trạng đó, tác giả đề xuất thêm các giải pháp nâng cao nhận thức và hành vi tiêu dùng nhằm giảm thiểu rác thải nhựa.2 Nghiên cứu nước ngoài.
Nghiên cứu “Plastic Pollution: Causes, Effects and Preventions” (tạm dịch tiếng Việt: “Ô nhiễm rác thải nhựa: Nguyên nhân, ảnh hưởng và cách phòng tránh”) của Obede S.A (2020), đã đƣa ra những nguyên nhân, ảnh hƣởng và cách phòng ngừa ô nhiễm nhựa. Các nguyên nhân gây ra ô nhiễm nhựa có thể kể đến nhƣ rác thải từ hoạt động đánh bắt cá, không phân loại rác thải nhựa với các loại rác thải khác, cách xử lý rác thải nhựa, quá phát trong việc sử dụng đồ dùng nhựa. Những ảnh hƣởng mà ô nhiễm nhựa gây ra: ô nhiễm nƣớc ngầm, đảo lộn chuỗi thức ăn, ô nhiễm đất, giết chết động vật, ô nhiễm không khí,… Từ đó tác giả đƣa ra những biện pháp phòng ngừa ô nhiễm nhựa nhƣ là tái sử dụng, giảm thiểu sử dụng đồ nhựa, tái chế, nâng cao nhận thức cho ngƣời dân, can thiệp từ Chính phủ,. Nghiên cứu “Plastic waste management” (tạm dịch tiếng Việt: “Quản lý rác thải nhựa”) của Prabha Singh và Lily Trivedi (2020) tại Vidyapeeth Women’s University, đã tập trung chỉ ra các phƣơng pháp quản lý rác thải nhựa hiệu quả nhất.
Bên cạnh việc đƣa ra các phƣơng pháp quản lý, xử lý rác thải nhựa hiện nay ví dụ nhƣ chôn lấp, thiêu huỷ và tái chế, tác giả cũng đƣa ra những công nghệ tái chế rác 6 thải nhựa hiệu quả hơn những biện pháp hiện tại, nhƣ chuyển đổi chất thải nhựa thành nguồn dầu nhiên liệu, khí hoá nhựa phế thải, sử dụng vi sinh vật để xử lý rác thải nhựa. Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp từ phía Chính phủ để cải thiện các phƣơng pháp quản lý, xử lý rác thải nhựa. Nghiên cứu “Plastic Waste Mitigation Strategies: A Review of lessons from Developing Countries” (tạm dịch tiếng Việt: “Chiến lược giảm thiểu rác thải nhựa: Bài học từ những quốc gia đang phát triển”) của tác giả Anil Hira cùng cộng sự (2022), đã tập trung chỉ ra những kinh nghiệm giảm thiểu rác thải nhựa từ các quốc gia phát triển. Nghiên cứu này cũng xem xét các nguyên nhân dẫn đến thất bại trong việc giảm thiểu rác thải nhựa ở khu vực Châu Phi cận Sahara (SSA) và Nam Á (SA).
Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét những thách thức trong việc chuyển đổi quy trình sản xuất và thay thế vật liệu tự nhiên để giảm thiểu chất thải nhựa. Nhìn chung, các nghiên cứu nƣớc ngoài cũng chủ yếu tìm ra các nguyên nhân, ảnh hƣởng, các bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, từ đó hƣớng đến đƣa ra các giải pháp hiệu quả nhất để giảm thiểu và quản lý hiệu quả rác thải nhựa. Các nghiên cứu đánh giá về thực trạng rác thải nhựa tại Việt Nam nói chung và các tỉnh, thành phố hoặc các địa điểm cụ thể nói riêng đều đã đƣợc thực hiện. Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu chính thức nào đánh giá cụ thể và đích danh về thực trạng rác nhựa và đề xuất các giải pháp giảm thiểu rác thải nhựa trong ngành dịch vụ ăn uống (F&B) tại Việt Nam.