MỞ ĐẦU Hiện nay các làng nghề đang là một bộ phận quan trọng trong việc cấu thành nền kinh tế và luôn đƣợc chú trọng trong các định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội nƣớc ta. Bên cạnh những mặt thuận lợi, các làng nghề của Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức nhƣ lao động sản xuất chủ yếu là thủ công, công nghệ sản xuất còn lạc hậu, chất lƣợng sản phẩm chƣa cao,. đặc biệt là các tác động đến chất lƣợng môi trƣờng sống và sức khỏe cộng đồng do hoạt động sản xuất của làng nghề gây ra. Phần lớn các làng nghề Việt Nam đƣợc hình thành và phát triển một cách tự phát với công nghệ lạc hậu và thiết bị đơn giản, thủ công, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tƣ cho xây dựng các hệ thống bảo vệ môi trƣờng rất ít đƣợc quan tâm; ý thức bảo vệ môi trƣờng và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình của ngƣời lao động còn rất hạn chế.
Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng các làng nghề ở nông thôn đã và đang là vấn đề bức xúc cần đƣợc quan tâm và giải quyết. Theo thống kê hiện cả nƣớc có hơn 1.300 làng nghề đƣợc công nhận và 3.200 làng có nghề. Trong số đó có nhiều làng nghề trá hình, lấy danh nghĩa làng nghề để trốn tránh các nghĩa vụ đối với xã hội, trốn các loại phí, thuế nói chung và bảo vệ môi trƣờng nói riêng, trốn tránh các chế tài về bảo vệ môi trƣờng. Bên cạnh đó, các làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, hiện nay có đến 60% các làng nghề tập trung khu vực phía bắc và chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố nhƣ: Hà Nội, Bắc Ninh, Hƣng Yên, Thái Bình, Nam Ðịnh.
Miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung chủ yếu ở các tỉnh nhƣ Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế và miền Nam chiếm khoảng 16,6%, tập trung chủ yếu ở các thành phố Cần Thơ, tỉnh Ðồng Nai, Bình Dƣơng[34]. Với sự phát triển tự phát và thiếu quy hoạch của các làng nghề tại khu vực nông thôn, cùng với sự mất cân bằng giữa nhu cầu phát triển sản xuất và khả năng đáp ứng của cơ sở vật chất, sự lỏng lẻo trong quản lý môi trƣờng nói riêng, hoạt động của các làng nghề đã và đang gây áp lực rất lớn đến chất lƣợng môi trƣờng tại các khu vực làng nghề.350 làng có nghề, chiếm 58,8% số làng toàn thành phố, giải quyết việc làm cho gần 740 nghìn lao động, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế, chuyển 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. ở địa phƣơng [35]. Bên cạnh những mặt tích cực trên thì các làng nghề của Hà Nội đã và đang tác động tiêu cực tới môi trƣờng gần các khu vực mà các làng nghề này hoạt động.
Trong các làng nghề của Hà Nội thì làng nghề cơ kim khí đặc biệt là các làng nghề ở phía Nam Hà Nội là một trong những làng nghề có tác động và ảnh hƣởng lớn nhất tới môi trƣờng nhất là môi trƣờng nƣớc. Hoạt động của làng nghề này gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nƣớc ngầm, nƣớc mặt là sông Nhuệ nơi tiếp nhận nƣớc thải và ảnh hƣởng lớn tới đời sống, sức khỏe của ngƣời dân liên quan đến vấn đề vệ sinh môi trƣờng, an toàn lao động do hoạt động của làng nghề này mang lại. Làng nghề cơ kim khí Rùa Hạ, xã Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Nội là làng nghề nổi tiếng ở khu vực phía Nam thành phố Hà Nội. Đây là làng nghề cơ kim khí với quy mô sản xuất lớn nhất trong xã.
Ra đời từ rất lâu, các sản phẩm của làng nghề đều đƣợc nhiều ngƣời biết đến và ghi nhận giá trị của chúng trong cuộc sống. Làng cơ kim khí với 3 loại hình sản xuất là sản xuất tôn nguyên liệu, đột dập và mạ dẫn đến nƣớc thải làng nghề này có hàm lƣợng muối vô cơ và kim loại nặng trong nƣớc rất cao. Tất cả nƣớc thải của làng nghề đều không đƣợc xử lý và đổ thẳng ra sông Nhuệ, khiến chất lƣợng nƣớc của sông Nhuệ ngày càng suy giảm nghiêm trọng. Trong những năm qua, mặc dù đã có sự quan tâm của các cấp huyện, thành phố trong việc giải quyết các vấn đề môi trƣờng nhƣng do nhiều yếu tố bao gồm cả khách quan, chủ quan nên môi trƣờng làng nghề trong xã vẫn còn nhiều điểm yếu kém và bất cập.
Để đánh giá thực trạng ô nhiễm nƣớc làng nghề cơ kim khí nhằm đƣa ra đƣợc bức tranh chung về tình hình ô nhiễm nƣớc, trên cơ sở đó đƣa ra các biện pháp phù hợp giảm thiểu các ảnh hƣởng do hoạt động sản xuất của loại hình này tới môi trƣờng. Trong khuôn khổ của luận văn, học viên đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm nước làng nghề cơ kim khí phía Nam Hà Nội và đề xuất giải pháp giảm thiểu”. Với mục tiêu gồm: 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Làm rõ thực trạng hoạt động, sản xuất của làng nghề cơ kim khí xã Thanh Thùy – huyện Thanh Oai. - Xác định các nguồn nƣớc thải từ hoạt động sản xuất của làng nghề cơ kim khí Rùa Hạ gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc sông Nhuệ.
- Đánh giá chất lƣợng nƣớc vùng tiếp nhận nƣớc thải của các hoạt động làng nghề cơ kim khí trên sông Nhuệ. Từ đó đánh giá khả năng chịu tải của nƣớc sông Nhuệ. - Tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý nƣớc thải của làng nghề cơ kim khí. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1.
Tổng quan làng nghề ở Việt Nam 1. Khái niệm làng nghề Ngƣời nông dân Việt Nam từ nhiều thế kỷ trƣớc đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống nhƣ: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này đƣợc lƣu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những ngƣời chuyên làm nghề thì đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ). Do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, đƣợc cải tiến kỹ thuật hơn và thƣờng đƣợc giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công.
Vì vậy, làng nghề đã xuất hiện. Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” [4]. Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn đƣợc coi là một làng nghề. Nhƣng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau: - Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc: - Số hộ và số lao động tham gia thƣờng xuyên hoặc không thƣờng xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do ngƣời trong làng tham gia. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Báo cáo môi trƣờng quốc gia năm 2008 [2], tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nƣớc.
Phân loại làng nghề Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo loại hình sản xuất , loại hình sản phẩm [4]. Theo cách này có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm : + Ƣơm tơ, dệt vải và may đồ da. + Chế biến lƣơng thực thực phẩm, dƣợc liệu. + Tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…).
+ Thủ công mỹ nghệ, thêu ren. + Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá. + Nghề khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lƣới. Ngoài ra còn có thể phân loại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bin ̀ h ); phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm ; theo lich ̣ sƣ̉ phát triể n ; theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại và phát triển… 1.
Thực trạng hoạt động của làng nghề Việt Nam hiện nay Trong những năm qua, các làng nghề nƣớc ta đang có tốc độ phát triển mạnh thông qua sự tăng trƣởng về số lƣợng và chủng loại ngành nghề sản xuất mới. Một số làng nghề từng bị mai một trong thời kỳ bao cấp thì nay cũng đang dần đƣợc khôi phục và phát triển. Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề có đƣợc vị 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế trên thị trƣờng, đƣợc khách hàng trong và ngoài nƣớc ƣa chuộng. Tuy nhiên, có một thực tế là đã và đang có sự biến tƣớng, pha tạp giữa làng nghề thực sự mang tính chất thủ công, truyền thống và làng nghề mà thực chất là sự phát triển công nghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn, tạo nên một bức tranh hỗn độn của làng nghề Việt Nam.
Phân bố làng nghề trong cả nước Sự phân bố làng nghề ở nƣớc ta có những đặc điểm sau: - Làng nghề truyền thống phân bố và có mật độ không đều giữa các vùng miền trên phạm vi toàn quốc và phản ánh những nét đặc thù của các dân tộc. - Các làng nghề ở nƣớc ta chủ yếu tập trung tại những vùng nông thôn. - Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc. - Loại hình sản xuất đa dạng.