CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO 1. KHÁI QUÁT VỀ GIẢM NGHÈO 1. Khái niệm về hộ nghèo Những năm gần đây, vấn đề đói nghèo đã thu hút sự quan tâm to lớn của cộng đồng quốc tế, đồng thời khẳng định cần có sự nỗ lực toàn cầu trong giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và giảm nghèo. Nền kinh tế càng tăng trưởng càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và chi phí khắc phục hậu quả của nó ngày một tốn kém hơn.
Trong các vấn đề xã hội bức xúc đó, vấn đề đói nghèo nổi lên hàng đầu và được cả cộng đồng quốc tế quan tâm. Những năm đầu của thế kỷ 21 có tới 78 quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo và đang phát triển xây dựng chiến lược giảm nghèo toàn diện; trong đó có gần 30 tổ chức quốc tế, bao gồm cả tổ chức đa phương, song phương và NGO xây dựng chiến lược hỗ trợ các nước nghèo trong cuộc chiến chống nghèo đói. Quan niệm về nghèo hay nhận dạng về nghèo của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chủ yếu là xác định mức độ thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào yếu tố lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do (ESCAP) tổ chức ở Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9 - 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao về khái niệm nghèo đói như sau: Luan van 11 Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận. Ở khái niệm về nghèo trên, cần xem xét ba vấn đề sau: - Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. - Nghèo thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo sẽ thay đổi theo thời gian, kinh tế càng phát triển, thì nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn. - Nghèo thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này đã chỉ cho chúng ta thấy rằng hiện tại thì chưa nhưng trong tương lai sẽ có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, từng vùng.
Xu hướng chung là các nước đang phát triển ngưỡng đo nghèo ngày càng cao. Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith chia sẽ với quan niệm này cho rằng con người bị coi là nghèo khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một quan niệm cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Luan van 12 Ông Abapia Sen, một chuyên gia hàng đầu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) - người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng: Nghèo là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn. Ngân hàng thế giới còn đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực.
Tháp tiếp cận về nghèo. Tiêu dùng + tài sản 3. Tiêu dùng + tài sản + con người 4. Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hoá - xã hội 5.
Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hoá - xã hội + chính trị 6. Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hoá - xã hội + chính trị + bảo vệ Quan niệm của bản thân người nghèo ở nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đơn giản hơn, trực diện hơn. Một số cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân, họ nói rằng: Nghèo là gì ư? là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, ngồi trong nhà cũng thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân. Luan van 13 Một số người khác thì trả lời nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai để sản xuất, không có trâu, bò, không có ti vi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh… Các quan niệm về đói nghèo nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo.
(i) Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. (ii) Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. (iii) Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng. Theo Word Bank (2005) ngưỡng nghèo (hay còn gọi là chuẩn nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo.
Có hai cách để xác định ngường nghèo: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục. Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định. Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo kể từ năm 2005 và định hướng đến năm 2020.
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do Hội nghị chống nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đồng thời vấn đề nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái niệm nghèo, ở nước ta còn có một số khái niệm sau: Luan van 14 Hộ nghèo: Là hộ ăn không đủ bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch. trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. Như vậy, nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định. Qua nghiên cứu chúng ta nhận thấy nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, nghèo thực chất là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp. Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến thực trạng, xu hướng, cách thức giải quyết vấn đề nghèo cần phải đánh giá những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác giảm nghèo ở nước ta.
Tiêu chí xác định hộ nghèo. Đối với Việt Nam, dù là trong ký ức của người dân hay trong các tài liệu của chính phủ trước đây, quan niệm về cái nghèo chưa bao giờ được coi đơn thuần là vấn đề thu nhập vật chất. Cái nghèo ở đây luôn hàm chứa cả sự nghèo nàn về đạo đức, học vấn, truyền thống… Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với sự gia tăng các nguồn viện trợ từ nước ngoài (kể cả chính phủ và phi chính phủ) thì những khái niệm về giàu nghèo dựa trên thu nhập hiện Luan van 15 đang được chính phủ và nhân dân sử dụng ngày càng nhiều, để xác định ai "giàu" và ai "nghèo". Đối với nước ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ 1993 đến 2006.
* Giai đoạn 1993 - 1995: Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn. Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn. * Giai đoạn 1995 - 1997: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng. + Thành thị: dưới 25kg/người/tháng. * Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH): Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.