Giải pháp giảm nghèo cho hộ dân tộc thiểu số khó khăn tại Mường Tè, Lai Châu - Luận văn

Giải pháp giảm nghèo hiệu quả cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại Mường Tè, Lai Châu. Tìm hiểu các chính sách và chương trình hỗ trợ.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

106
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.4. Đóng góp mới của luận văn

1.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.6. Bố cục của luận văn

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐÓI

1.1. Cơ sở lý luận về nghèo đói

1.1.1. Các khái niệm về nghèo đói

1.2. Các thước đo chỉ số nghèo đói và bất bình đẳng

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói

1.4. Cơ sở thực tiễn

1.4.1. Tình hình nghèo đói thế giới

1.4.2. Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của các nước tiêu biểu

1.4.3. Tình hình nghèo đói tại Việt Nam

1.4.4. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Việt Nam

1.4.5. Kinh nghiệm giảm đói nghèo của một số địa phương

1.4.6. Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với Huyện Mường Tè - Lai Châu

2. CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Câu hỏi nghiên cứu

2.2. Phương pháp thu thập số liệu

2.2.1. Thu thập số liệu thứ cấp

2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp

2.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

2.3.1. Đối với thông tin thứ cấp

2.3.2. Đối với thông tin sơ cấp

2.4. Phương pháp phân tích số liệu

2.4.1. Phương pháp phân tổ

2.4.2. Phương pháp phân tích hồi quy Logistic

2.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

3. CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NGHÈO ĐÓI CỦA HỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI HUYỆN MƢỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

3.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Điều kiện tự nhiên

3.1.3. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

3.1.4. Dân số, nguồn nhân lực, đặc điểm dân cư và các vấn đề xã hội

3.1.5. Đánh giá chung

3.2. Thực trạng tình hình nghèo đói của hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại huyện Mường Tè, Lai Châu

3.2.1. Kết quả tình hình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015

3.2.2. Thực trạng đói nghèo của nhóm hộ nghiên cứu

3.2.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói của hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

3.2.4. Đánh giá chung về thực trạng nghèo đói và các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo của các hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại Huyện Mường Tè - tỉnh Lai Châu

4. CHƢƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO CHO HỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI HUYỆN MƢỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

4.1. Quan điểm trong công tác giảm nghèo nhanh, bền vững đối với dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020 của Huyện Mường Tè

4.2. Một số giải pháp nhằm giảm nghèo đói cho các hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại huyện Mường Tè, Lai Châu

4.2.1. Nhóm giải pháp làm tăng diện tích đất hộ gia đình

4.2.2. Nhóm giải pháp về giáo dục và cải thiện trình độ học vấn

4.2.3. Nhóm giải pháp về vốn

4.2.4. Nhóm giải pháp tác động góp phần giảm quy mô hộ và số người phụ thuộc

4.2.5. Nhóm giải pháp liên quan đến vấn đề đi làm xa

4.2.6. Kiến nghị với Nhà nước, với tỉnh Lai Châu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giảm Nghèo Cho Dân Tộc Thiểu Số Lai Châu

Lai Châu, một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, đối mặt với nhiều thách thức trong công cuộc giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo trong dân tộc thiểu số nghèo Lai Châu vẫn còn cao so với mức trung bình của cả nước. Địa hình hiểm trở, cơ sở hạ tầng hạn chế, và trình độ dân trí thấp là những yếu tố cản trở sự phát triển kinh tế xã hội. Để nâng cao đời sống Lai Châu cho đồng bào dân tộc, cần có một chiến lược giảm nghèo toàn diện và bền vững, tập trung vào việc khai thác tiềm năng địa phương, nâng cao năng lực cho người dân, và đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các chính sách giảm nghèo cần phù hợp với đặc điểm văn hóa và kinh tế của từng dân tộc, đồng thời tạo điều kiện để người dân chủ động tham gia vào quá trình phát triển. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một xã hội Lai Châu thịnh vượng, công bằng và bền vững, nơi mọi người dân đều có cơ hội phát triển. Lai Châu đã có những bước tiến đáng kể trong việc giảm nghèo, với tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 46,78% (năm 2011) xuống 18,75% (năm 2015). Thu nhập bình quân đầu người cũng tăng từ 8,2 triệu đồng (năm 2010) lên 18,2 triệu đồng (năm 2015). Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững, cần tiếp tục nỗ lực và có những giải pháp đột phá.

1.1. Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội Các Dân Tộc Thiểu Số Lai Châu

Các dân tộc thiểu số tại Lai Châu, như Mảng, Cống, La Hủ, có những đặc điểm kinh tế xã hội riêng biệt. Hầu hết các hộ gia đình sống ở vùng sâu vùng xa, phụ thuộc vào nông nghiệp tự cung tự cấp. Trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng sản xuất hiện đại, và hạn chế về nguồn vốn là những rào cản lớn. Bên cạnh đó, các phong tục tập quán truyền thống đôi khi cũng gây khó khăn cho việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật và thay đổi phương thức sản xuất. Do đó, các chương trình hỗ trợ sinh kế Lai Châu cần được thiết kế phù hợp với từng nhóm dân tộc, chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

1.2. Vai Trò Của Chính Sách Giảm Nghèo Của Nhà Nước Tại Lai Châu

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo Lai Châu thông qua các chính sách và chương trình hỗ trợ. Chương trình 135 Lai Châu, các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, giáo dục, y tế đã góp phần cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách này còn hạn chế do nhiều yếu tố, như thủ tục hành chính phức tạp, sự thiếu phối hợp giữa các ban ngành, và sự tham gia hạn chế của người dân. Do đó, cần có những cải cách để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của các chính sách giảm nghèo.

II. Thách Thức Trong Giảm Nghèo Cho Dân Tộc Thiểu Số Lai Châu

Công cuộc giảm nghèo cho dân tộc thiểu số Lai Châu đối mặt với nhiều thách thức phức tạp. Địa hình hiểm trở gây khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và tiếp cận các dịch vụ xã hội. Trình độ dân trí thấp hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức và kỹ năng mới. Tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, và thiếu việc làm ổn định là những vấn đề nan giải. Biến đổi khí hậu và thiên tai thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Sự thay đổi các chính sách, cơ chế, và nguồn lực cũng gây khó khăn trong việc triển khai các chương trình giảm nghèo. Để vượt qua những thách thức này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, và sự tham gia tích cực của cộng đồng.

2.1. Rào Cản Về Cơ Sở Hạ Tầng Và Tiếp Cận Dịch Vụ Xã Hội

Hệ thống giao thông, điện, nước, trường học, bệnh viện ở nhiều vùng dân tộc thiểu số Lai Châu còn thiếu thốn và xuống cấp. Điều này gây khó khăn cho việc đi lại, sản xuất, học tập, và chăm sóc sức khỏe của người dân. Việc tiếp cận các dịch vụ y tế vùng sâu vùng xa Lai Châu, giáo dục vùng cao Lai Châu, thông tin, và các dịch vụ công cộng khác cũng bị hạn chế. Do đó, cần ưu tiên đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, đồng thời tăng cường cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản đến tận các thôn bản.

2.2. Thiếu Đất Sản Xuất Và Việc Làm Ổn Định Tại Lai Châu

Nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số Lai Châu thiếu đất sản xuất hoặc đất đai bạc màu, không đủ để đảm bảo cuộc sống. Tình trạng thiếu việc làm ổn định, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, khiến người dân phải di cư lao động hoặc làm các công việc thời vụ với thu nhập thấp. Để giải quyết vấn đề này, cần có chính sách phân bổ đất đai hợp lý, hỗ trợ kỹ thuật canh tác, phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, và tạo điều kiện để người dân tiếp cận thị trường lao động.

III. Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Giảm Nghèo Lai Châu

Phát triển nông nghiệp bền vững Lai Châu là một trong những giải pháp quan trọng để giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Cần tập trung vào việc nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến, sử dụng giống mới có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, và phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương. Đồng thời, cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường, sử dụng phân bón hữu cơ, hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, và quản lý nguồn nước hiệu quả. Phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc sản, có giá trị kinh tế cao, và gắn với thị trường tiêu thụ cũng là một hướng đi quan trọng.

3.1. Ứng Dụng Khoa Học Kỹ Thuật Vào Trồng Trọt Chăn Nuôi Lai Châu

Việc trồng trọt chăn nuôi Lai Châu còn lạc hậu, năng suất thấp, và hiệu quả kinh tế chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, cần tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn người dân áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, sử dụng các loại phân bón, thuốc trừ sâu sinh học, và các biện pháp phòng trừ dịch bệnh hiệu quả. Đồng thời, cần khuyến khích người dân tham gia các lớp tập huấn, hội thảo, và các chương trình trình diễn mô hình sản xuất thành công.

3.2. Phát Triển Sản Phẩm Nông Nghiệp Đặc Sản Gắn Với Thị Trường

Lai Châu có nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc sản, như chè, thảo quả, mắc ca, mật ong, có tiềm năng phát triển thị trường lớn. Để khai thác tiềm năng này, cần xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, và kết nối với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Đồng thời, cần hỗ trợ người dân xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã, và các chuỗi liên kết sản xuất để tăng cường sức cạnh tranh và ổn định đầu ra cho sản phẩm.

IV. Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Bền Vững Giảm Nghèo Lai Châu

Du lịch cộng đồng Lai Châu có tiềm năng lớn để tạo thu nhập và việc làm cho người dân tộc thiểu số. Phát triển du lịch cần gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cảnh quan thiên nhiên, và bản sắc địa phương. Đồng thời, cần đảm bảo lợi ích kinh tế của người dân, tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động du lịch, như cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, và bán hàng thủ công mỹ nghệ. Quản lý du lịch bền vững, bảo vệ môi trường, và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng cũng là những yếu tố quan trọng.

4.1. Khai Thác Tiềm Năng Văn Hóa Truyền Thống Dân Tộc Lai Châu

Lai Châu có một kho tàng văn hóa truyền thống dân tộc Lai Châu phong phú và độc đáo, là nguồn tài nguyên du lịch quý giá. Cần bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, như kiến trúc nhà ở, trang phục, lễ hội, âm nhạc, và ẩm thực. Đồng thời, cần tạo điều kiện để người dân tham gia vào việc giới thiệu, quảng bá, và trình diễn các giá trị văn hóa của mình cho du khách.

4.2. Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Du Lịch Cộng Đồng Tại Lai Châu

Để phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả, cần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, có kỹ năng chuyên môn và thái độ phục vụ tốt. Cần tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ du lịch, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, và kiến thức về văn hóa địa phương cho người dân. Đồng thời, cần khuyến khích người dân tham gia các khóa học nghề, các chương trình trao đổi kinh nghiệm, và các hoạt động xúc tiến du lịch.

V. Chính Sách Tín Dụng Ưu Đãi Hỗ Trợ Giảm Nghèo Lai Châu

Tín dụng ưu đãi Lai Châu đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn cho người nghèo để phát triển sản xuất kinh doanh. Cần mở rộng phạm vi và đối tượng được vay vốn, giảm lãi suất, và đơn giản hóa thủ tục vay vốn. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Hỗ trợ người dân tiếp cận các dịch vụ tài chính, như tiết kiệm, bảo hiểm, và tư vấn tài chính cũng là một phần quan trọng của chiến lược giảm nghèo.

5.1. Mở Rộng Tiếp Cận Tín Dụng Cho Hộ Nghèo Vùng Cao Lai Châu

Nhiều hộ nghèo, đặc biệt là ở vùng cao, vùng sâu vùng xa, gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp, thủ tục phức tạp, và khoảng cách địa lý xa xôi. Cần có chính sách đặc biệt để mở rộng tiếp cận tín dụng cho các hộ nghèo này, như cho vay tín chấp, cho vay thông qua các tổ chức tín dụng vi mô, và hỗ trợ chi phí đi lại, làm thủ tục vay vốn.

5.2. Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Vay Của Người Dân Lai Châu

Việc sử dụng vốn vay hiệu quả có ý nghĩa quyết định đến thành công của các chương trình giảm nghèo. Cần tăng cường tư vấn, hướng dẫn người dân sử dụng vốn vay đúng mục đích, lựa chọn các mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp, và quản lý tài chính cá nhân hiệu quả. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, và xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng vốn sai mục đích.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Giảm Nghèo Tại Lai Châu

Công cuộc giảm nghèo cho dân tộc thiểu số tại Lai Châu là một quá trình lâu dài và đầy thách thức. Tuy nhiên, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của chính quyền địa phương, và sự tham gia tích cực của cộng đồng, Lai Châu hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trong tương lai, cần tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp, và cơ chế hoạt động, tập trung vào việc khai thác tiềm năng địa phương, phát huy nội lực, và tạo điều kiện để người dân chủ động tham gia vào quá trình phát triển. Đồng thời, cần chú trọng đến việc bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường, và đảm bảo công bằng xã hội.

6.1. Đề Xuất Các Giải Pháp Khởi Nghiệp Vùng Cao Lai Châu

Cần xây dựng môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp vùng cao Lai Châu, hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số tiếp cận các nguồn vốn, kiến thức, và kỹ năng khởi nghiệp. Khuyến khích phát triển các mô hình kinh doanh sáng tạo, dựa trên các sản phẩm địa phương, và gắn với thị trường tiêu thụ. Đồng thời, cần tạo ra mạng lưới kết nối giữa các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp để tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp năng động và hiệu quả.

6.2. Phát Triển Thị Trường Lao Động Và Đào Tạo Nghề Lai Châu

Cần phát triển thị trường lao động Lai Châu đa dạng và linh hoạt, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế địa phương. Tăng cường đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số, trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm việc làm ổn định và có thu nhập cao. Đồng thời, cần kết nối các cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp, các khu công nghiệp, và các thị trường lao động lớn để tạo ra cơ hội việc làm cho người dân.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 4 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói - Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng nghèo đói và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói của hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại huyện Mường Tè , tỉnh Lai Châu - Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp giảm nghèo cho hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐÓI 1. Cơ sở lý luận về nghèo đói 1. Các khái niệm về nghèo đói 1. Định nghĩa về nghèo đói Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 nghèo định nghĩa: “Người là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Hoài, 2005).

NHTG định nghĩa nghèo đói bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, NHTG đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương. Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường.

Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ (NHTG, 1990). Như vậy, có thể thấy, khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia, vùng hay từng cộng đồng dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể. Hầu hết các tiêu chí xác định nghèo đói đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.

Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia và các tiêu chí để xác định nghèo đói cũng biến đổi theo thời gian. 7 Tại Việt Nam chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, theo đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (Hoài, 2005). Như vậy, tất cả những định nghĩa về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; - Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Phân loại a) Nghèo tuyệt đối "Nghèo ở mức độ tuyệt đối.

là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta" (theo Robert McNamara - Cựu Giám đốc Ngân hàng thế giới ) (trích dẫn từ http://vi.org/wiki/Ngh%C3%A8o) b) Nghèo tương đối: Nghèo tương đối có thể được hiểu như là việc những người thuộc về 1 số tầng lớp nhất định so với xã hội, không được cung cấp đầy đủ vật chất và dịch vụ mà đáng lẽ họ phải nhận được so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Đặc điểm của người nghèo Thứ nhất: Hộ nghèo chủ yếu là các hộ nông dân, chiếm trên 80% số người nghèo.

Hộ nghèo với trình độ học vấn thấp, trình độ tay nghề thấp, nguồn vốn bị hạn chế, có rất ít hoặc không có đất canh tác. Thứ hai: Hộ nghèo là những hộ không có khả năng thu nhập ổn định từ công ăn việc làm hay từ các khoản chuyển nhượng của phúc lợi xã hội. Thứ ba: Hộ nghèo là những hộ có trình độ học vấn thấp, do vậy bản thân các hộ nghèo đều hiểu được rằng trình độ học vấn là chìa khóa để thoát nghèo. Thứ tư: Các hộ có nhiều trẻ em và phụ nữ sống độc thân thường là hộ nghèo, vì có ít người tham gia lao động nhưng nhu cầu về dinh dưỡng, ăn uống lại nhiều.

Thứ năm: Các hộ nghèo thường là nạn nhân của tình trạng nợ nần Cuối cùng: Hộ nghèo là các hộ rất dễ bị tổn thương, nguy cơ chịu tổn thương là bởi những khó khăn theo thời vụ, bởi những đột biến xảy ra với các hộ gia đình và những cuộc khủng hoảng xảy ra với cộng đồng là một khía cạnh của quá trình nghèo đói. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo a) Quan niệm của thế giới Chỉ tiêu thu nhập: Ngân hàng thế giới đưa ra khuyến nghị thang đo đói nghèo như sau: - Đối với các nước nghèo, các cá nhân được gọi là nghèo đói khi có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày. - Đối với các nước đang phát triển là 1USD/ngày. - Đối với các nước thuộc châu Mĩ La Tinh và Caribe là 2USD/ngày.

- Đối với các nước Đông Âu là 4USD/ngày. Chỉ tiêu HDI Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số tổng hợp (bình quân giản đơn) của ba chỉ số thành phần: chỉ số Tuổi thọ, chỉ số Giáo dục và chỉ số GDP phản ánh về sự phát triển kinh 9 tế - xã hội của một quốc gia hay một vùng, một tỉnh., trên các phương diện sức khoẻ, tri thức và mức sống. Giá trị của chỉ số HDI dao động trong phạm vi từ 0,000 đến 1,000. Cơ quan báo cáo con người của Liên Hợp Quốc đã phân chia mức HDI thành 3 nhóm sau: - Mức độ phát triển con người thấp có giá trị HDI từ 0,000 đến 0,499 - Mức độ phát triển con người trung bình có giá trị HDI từ 0,500 đến 0,799.

- Mức độ phát triển con người cao có giá trị HDI từ 0,800 đến 1,000 Theo Báo cáo phát triển con người năm 2015 được UNDP công bố ngày 15 tháng 12 năm 2015, Chỉ số phát triển con người của Việt Nam là 0.666 xếp thứ 116 trên tổng 185 nước. Các nước có chỉ số HDI cao nhất là: Norway, Australia; Swizerland, Denmark, Netherlands, Germany, Ireland, Canada, United State, New Zealand. Các nước đứng cuối bảng là: Chad (185); Eritea (186); Central Africa Republic; Niger. Việt Nam xếp ở mức trung bình cùng với các nước South Africa; El Salvado; Philippin ;Uzbekistan.

b) Quan điểm của Việt Nam Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện cả vật chất lẫn tinh thần: các điều kiện tối thiểu về chỗ ăn, ở; học hành, chữa bệnh và hưởng thụ đời sống văn hóa, các giá trị tinh thần… Không có một định nghĩa duy nhất về nghèo đói và do đó cũng không có một phương pháp hoàn hảo để đo lường. Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ của mình, Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã tiến hành đánh giá, phân loại hộ nghèo theo những cách thức riêng: - Theo Tổng cục Thống kê: dựa trên kết quả điều tra mức sống dân cư Việt Nam, áp dụng theo cơ sở định nghĩa đói nghèo mà Ngân hàng Thế giới 10 áp dụng cho các nước đang phát triển. Phương pháp này dựa cả vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người và xác định hai ngưỡng nghèo: Ngưỡng nghèo thứ nhất- nghèo về dinh dưỡng: tức là dựa vào mức độ chi tiêu, là số tiền cần thiết để có được một số lượng lương thực hàng ngày để đảm bảo dinh dưỡng. Ngưỡng nghèo thứ hai- ngưỡng nghèo chung: ngưỡng nghèo này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực, chẳng hạn quần áo, thuốc chữa bệnh,.

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Xác định chuẩn nghèo dựa trên thu nhập bình quân của hộ. Chuẩn nghèo này được xây dựng cho từng thời kỳ để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội với thời kỳ đó. Cụ thể, chuẩn nghèo của Bộ LĐ - TB & XH qua các thời kỳ được thể hiện qua bảng sau (bảng 1. Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn Thu nhập bình quân/ ngƣời/tháng qua các giai đoạn Loại Địa bàn 1993- 1995- 1997- 2001- 2006- 2011- hộ 1995 1997 2000 2005 2010 2015 <13 kg <13 kg Mọi vùng gạo gạo <13 kg Đói + Thành thị gạo <8 kg + Nông thôn gạo <20 kg <25 kg <25 kg 150.000 Thành thị gạo gạo gạo đồng đồng đồng <15 kg 260.000 Nông thôn gạo đồng đồng Nghèo - Miền núi <15 kg < 15 kg 80.000 hải đảo gạo gạo đồng - Đồng bằng <20 kg < 20 kg 100.000 trung du gạo gạo đồng Nguồn: Tổng hợp chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn 11 Giai đoạn 2006-2010: Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 08 tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 là: Ở khu vực nông thôn thì những hộ gia đình có thu nhập BQĐN từ 200.000 đồng/tháng/người (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Ở khu vực thành thị thì những hộ gia đình có thu nhập từ 260.000 đồng/người/tháng (3.000/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Giai đoạn 2011-2015: Theo QĐ số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 về chuẩn nghèo và cận nghèo Việt Nam giai đoạn 2011-2015: Ở khu vực nông thôn thì những hộ gia đình có thu nhập BQĐN từ 400.000 đồng/người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị thì những hộ gia đình có thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000 đồng /người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Hộ cận nghèo ở nông thôn là những hộ có mức thu nhập BQĐN từ 401.000/người/ tháng.

Giai đoạn 2016-2020: Các tiêu chí về thu nhập: Chuẩn nghèo 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; Chuẩn cận nghèo 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ