phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 4 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói - Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng nghèo đói và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói của hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại huyện Mường Tè , tỉnh Lai Châu - Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp giảm nghèo cho hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐÓI 1. Cơ sở lý luận về nghèo đói 1. Các khái niệm về nghèo đói 1. Định nghĩa về nghèo đói Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 nghèo định nghĩa: “Người là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Hoài, 2005).
NHTG định nghĩa nghèo đói bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, NHTG đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương. Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường.
Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ (NHTG, 1990). Như vậy, có thể thấy, khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia, vùng hay từng cộng đồng dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể. Hầu hết các tiêu chí xác định nghèo đói đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.
Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia và các tiêu chí để xác định nghèo đói cũng biến đổi theo thời gian. 7 Tại Việt Nam chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, theo đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (Hoài, 2005). Như vậy, tất cả những định nghĩa về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; - Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Phân loại a) Nghèo tuyệt đối "Nghèo ở mức độ tuyệt đối.
là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta" (theo Robert McNamara - Cựu Giám đốc Ngân hàng thế giới ) (trích dẫn từ http://vi.org/wiki/Ngh%C3%A8o) b) Nghèo tương đối: Nghèo tương đối có thể được hiểu như là việc những người thuộc về 1 số tầng lớp nhất định so với xã hội, không được cung cấp đầy đủ vật chất và dịch vụ mà đáng lẽ họ phải nhận được so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Đặc điểm của người nghèo Thứ nhất: Hộ nghèo chủ yếu là các hộ nông dân, chiếm trên 80% số người nghèo.
Hộ nghèo với trình độ học vấn thấp, trình độ tay nghề thấp, nguồn vốn bị hạn chế, có rất ít hoặc không có đất canh tác. Thứ hai: Hộ nghèo là những hộ không có khả năng thu nhập ổn định từ công ăn việc làm hay từ các khoản chuyển nhượng của phúc lợi xã hội. Thứ ba: Hộ nghèo là những hộ có trình độ học vấn thấp, do vậy bản thân các hộ nghèo đều hiểu được rằng trình độ học vấn là chìa khóa để thoát nghèo. Thứ tư: Các hộ có nhiều trẻ em và phụ nữ sống độc thân thường là hộ nghèo, vì có ít người tham gia lao động nhưng nhu cầu về dinh dưỡng, ăn uống lại nhiều.
Thứ năm: Các hộ nghèo thường là nạn nhân của tình trạng nợ nần Cuối cùng: Hộ nghèo là các hộ rất dễ bị tổn thương, nguy cơ chịu tổn thương là bởi những khó khăn theo thời vụ, bởi những đột biến xảy ra với các hộ gia đình và những cuộc khủng hoảng xảy ra với cộng đồng là một khía cạnh của quá trình nghèo đói. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo a) Quan niệm của thế giới Chỉ tiêu thu nhập: Ngân hàng thế giới đưa ra khuyến nghị thang đo đói nghèo như sau: - Đối với các nước nghèo, các cá nhân được gọi là nghèo đói khi có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày. - Đối với các nước đang phát triển là 1USD/ngày. - Đối với các nước thuộc châu Mĩ La Tinh và Caribe là 2USD/ngày.
- Đối với các nước Đông Âu là 4USD/ngày. Chỉ tiêu HDI Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số tổng hợp (bình quân giản đơn) của ba chỉ số thành phần: chỉ số Tuổi thọ, chỉ số Giáo dục và chỉ số GDP phản ánh về sự phát triển kinh 9 tế - xã hội của một quốc gia hay một vùng, một tỉnh., trên các phương diện sức khoẻ, tri thức và mức sống. Giá trị của chỉ số HDI dao động trong phạm vi từ 0,000 đến 1,000. Cơ quan báo cáo con người của Liên Hợp Quốc đã phân chia mức HDI thành 3 nhóm sau: - Mức độ phát triển con người thấp có giá trị HDI từ 0,000 đến 0,499 - Mức độ phát triển con người trung bình có giá trị HDI từ 0,500 đến 0,799.
- Mức độ phát triển con người cao có giá trị HDI từ 0,800 đến 1,000 Theo Báo cáo phát triển con người năm 2015 được UNDP công bố ngày 15 tháng 12 năm 2015, Chỉ số phát triển con người của Việt Nam là 0.666 xếp thứ 116 trên tổng 185 nước. Các nước có chỉ số HDI cao nhất là: Norway, Australia; Swizerland, Denmark, Netherlands, Germany, Ireland, Canada, United State, New Zealand. Các nước đứng cuối bảng là: Chad (185); Eritea (186); Central Africa Republic; Niger. Việt Nam xếp ở mức trung bình cùng với các nước South Africa; El Salvado; Philippin ;Uzbekistan.
b) Quan điểm của Việt Nam Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện cả vật chất lẫn tinh thần: các điều kiện tối thiểu về chỗ ăn, ở; học hành, chữa bệnh và hưởng thụ đời sống văn hóa, các giá trị tinh thần… Không có một định nghĩa duy nhất về nghèo đói và do đó cũng không có một phương pháp hoàn hảo để đo lường. Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ của mình, Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã tiến hành đánh giá, phân loại hộ nghèo theo những cách thức riêng: - Theo Tổng cục Thống kê: dựa trên kết quả điều tra mức sống dân cư Việt Nam, áp dụng theo cơ sở định nghĩa đói nghèo mà Ngân hàng Thế giới 10 áp dụng cho các nước đang phát triển. Phương pháp này dựa cả vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người và xác định hai ngưỡng nghèo: Ngưỡng nghèo thứ nhất- nghèo về dinh dưỡng: tức là dựa vào mức độ chi tiêu, là số tiền cần thiết để có được một số lượng lương thực hàng ngày để đảm bảo dinh dưỡng. Ngưỡng nghèo thứ hai- ngưỡng nghèo chung: ngưỡng nghèo này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực, chẳng hạn quần áo, thuốc chữa bệnh,.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Xác định chuẩn nghèo dựa trên thu nhập bình quân của hộ. Chuẩn nghèo này được xây dựng cho từng thời kỳ để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội với thời kỳ đó. Cụ thể, chuẩn nghèo của Bộ LĐ - TB & XH qua các thời kỳ được thể hiện qua bảng sau (bảng 1. Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn Thu nhập bình quân/ ngƣời/tháng qua các giai đoạn Loại Địa bàn 1993- 1995- 1997- 2001- 2006- 2011- hộ 1995 1997 2000 2005 2010 2015 <13 kg <13 kg Mọi vùng gạo gạo <13 kg Đói + Thành thị gạo <8 kg + Nông thôn gạo <20 kg <25 kg <25 kg 150.000 Thành thị gạo gạo gạo đồng đồng đồng <15 kg 260.000 Nông thôn gạo đồng đồng Nghèo - Miền núi <15 kg < 15 kg 80.000 hải đảo gạo gạo đồng - Đồng bằng <20 kg < 20 kg 100.000 trung du gạo gạo đồng Nguồn: Tổng hợp chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn 11 Giai đoạn 2006-2010: Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 08 tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 là: Ở khu vực nông thôn thì những hộ gia đình có thu nhập BQĐN từ 200.000 đồng/tháng/người (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Ở khu vực thành thị thì những hộ gia đình có thu nhập từ 260.000 đồng/người/tháng (3.000/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Giai đoạn 2011-2015: Theo QĐ số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 về chuẩn nghèo và cận nghèo Việt Nam giai đoạn 2011-2015: Ở khu vực nông thôn thì những hộ gia đình có thu nhập BQĐN từ 400.000 đồng/người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị thì những hộ gia đình có thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000 đồng /người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Hộ cận nghèo ở nông thôn là những hộ có mức thu nhập BQĐN từ 401.000/người/ tháng.
Giai đoạn 2016-2020: Các tiêu chí về thu nhập: Chuẩn nghèo 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; Chuẩn cận nghèo 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.