CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO 1. Quan niệm về nghèo a. Quan niệm của một số tổ chức quốc tế Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của đất nước.
Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn về xã hội, bất ổn về chính trị. Mọi dân tộc tuy có khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có chung một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giàu có. Thực tế ở một số nước cho thấy khi kinh tế càng phát triển, năng suất lao động càng cao thì sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, tình trạng nghèo đói càng bức xúc và có nguy cơ dẫn đến xung đột. Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giàu ngày càng có xu hướng nới rộng ra đang là một vấn đề có tính toàn cầu.
Tuy vậy, nhận thức, cách tiếp cận và phương thức giải quyết vấn đề nghèo đói đang có nhiều khác biệt giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ. Điều đó đang làm hạn chế hiệu quả của các mục tiêu hay nỗ lực của các chính phủ và các tổ chức trong việc cải thiện mức thu nhập cho người nghèo tiến tới thu hẹp hố ngăn cách giàu - nghèo. Do đó, cần có chủ trương, giải pháp xoá đói giảm nghèo (XĐGN) mang tầm cỡ quốc gia, quốc tế, nếu không sẽ tạo ra những hậu quả khó lường đến cộng đồng, xã hội, như tình trạng di dân tự do ồ ạt trên phạm vi quốc tế, phá hoại môi trường sinh thái, tiêu cực xã hội lan rộng, xung đột xã hội, xung đột chính trị và cao hơn nữa là xung đột giai cấp, xung đột sắc tộc… Luan van 10 Để xây dựng các chủ trương, giải pháp XĐGN cần phải có quan niệm đúng về đói nghèo và có sự thống nhất chung cho các quốc gia về các khái niệm nghèo đói. Nếu có sự khác nhau giữa các quốc gia thì đó chỉ là sự khác nhau về cách tiếp cận, chứ không phải khác nhau về bản chất của nghèo đói.
Các nhà khoa học có nhiều định nghĩa về nghèo như: Nghèo về vật chất, nghèo về tri thức, nghèo về văn hóa, nghèo về điều kiện sinh hoạt v. Còn đói là khái niệm dùng để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư. Do vậy, nghèo đói hay đói nghèo là khái niệm kép. Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà có những khái niệm khác nhau về nghèo đói.
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok (ThaiLan), các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế -xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [5 tr. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát, nên có thể coi đây là định nghĩa chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện nét chính yếu phổ biến về đói nghèo của các quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa chưa được xác định vì còn phải tính đến sự khác biệt về mặt chênh lệch giữa các điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng, miền khác nhau. Ưu điểm của khái niệm này là: Làm rõ được bộ phận dân cư nghèo đói là: "Tùy theo trình độ phát triển KT- XH và phong tục tập quán từng địa phương".
Đây là khái niệm được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam. Quan niệm của Việt Nam Các nhà nghiên cứu và quản lý ở nước ta thừa nhận và sử dụng khái Luan van 11 niệm nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế- xã hội khu vực châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra. Bên cạnh đó, còn có một số khái niệm liên quan như hộ nghèo, hộ tái nghèo, xã nghèo, vùng nghèo. - Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một quá trình thực hiện chương trình Xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn nghèo.
- Hộ tái nghèo: Là hộ vốn dĩ trước đây thuộc hộ nghèo và đã vượt nghèo nhưng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào cảnh đói nghèo. Ý nghĩa của khái niệm này là phản ánh tính vững chắc hay tính bền vững của các giải pháp xoá đói giảm nghèo. - Hộ nghèo mới hay là hộ mới vào danh sách nghèo: Là những hộ ở đầu kỳ không thuộc danh sách hộ nghèo nhưng đến cuối kỳ lại là hộ nghèo. Như vậy, hộ mới bước vào danh sách hộ nghèo bao gồm những hộ như sau: Hộ nghèo chuyển từ nơi khác đến; hộ nghèo tách hộ; hộ trung bình khá vì một lý do nào đó lại trở thành hộ nghèo hoặc hộ tái nghèo.
- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như: điện, đường, trường, trạm, nước sạch v., trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. - Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. Tóm lại, nghèo đói là một phạm trù lịch sử, có tính tương đối. Đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, nghèo đói thực chất là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, chứ không đơn thuần chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù các yếu tố đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế.
Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp XĐGN ở nước ta. Quan niệm về chuẩn nghèo Để đánh giá được mức độ nghèo đói, cần phải đưa ra các tiêu chí cụ thể. Tuy nhiên các tiêu chí xác định không cố định mà luôn có sự biến động và khác nhau không những giữa các nước mà còn khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới Để đánh giá được mức độ nghèo đói, cần phải đưa ra các tiêu chí cụ thể.
Tuy nhiên các tiêu chí xác định không cố định mà luôn có sự biến động và khác nhau không những giữa các nước mà còn khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử. - Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của UNDP Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư. Thước đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là: Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo và rất nghèo.
Theo cách tính này, vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm 1,4%. Như vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất [28]. - Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của WB Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP Luan van 13 (purchasing power parity), là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD.
Theo phương pháp Atlas [15, tr.31], năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000USD/người/năm là nước khá giàu.000USD/người/năm là nước trung bình. + Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm là nước nghèo. + Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo. Theo phương pháp PPP [19], theo phương pháp thứ hai này, WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới.
Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hóa, thực hiện phương pháp tính "rổ hàng hóa" sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh. WB đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2. Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 1USD/người/ngày. Từ đó, năm 1995 WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 370USD/người/năm.
Với mức trên WB ước tính có trên 1,2 tỷ người trên thế giới đang sống trong nghèo đói. Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền kinh tế -xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia. Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày.
Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là 28USD/người/tháng. Srilanca là 17USD/người/tháng. Bangladet là 11USD/ người/ tháng. Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người Luan van 14 hiện nay khoảng 600 USD/ người/ năm, nên trên bình diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó, do đó không thể lấy mức nghèo đói của WB để xác định nghèo đói của Việt Nam.
Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo. Nhưng cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội.