Chương 1 MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm về Xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững, Khái niệm chính sách và thực hiện chinh sách về giảm nghèo bền vững. Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động, là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của loài người. Do đó, Giảm đói nghèo là một trong những vấn đề quan tâm của toàn cầu trong nhiều thập kỷ qua cũng như trong nhiều năm tới và cũng là một mục tiêu hàng đầu của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu đó phụ thuộc vào trình độ phát triển KTXH, phong tục, tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận. Ở nước ta, đói và nghèo được chia thành hai khái niệm: - Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì sự sống. Là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ dinh dưỡng tối thiểu cần thiết hằng ngày và không đủ sức để tái sản xuất sức lao động. Về mặt năng 7 Luan van lượng, nếu trong một ngày, con người chỉ được thõa mãn mức 1500 cal/ngày thì đó là thiếu đói, dưới mức đó là gay gắt.
- Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thõa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống, có mức sống thấp hơn trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Họ phải vật lộn với mưu sinh hằng ngày và kinh tế vật chất, trực tiếp nhất ở bữa ăn; họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa – tinh thần, hay phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất hoặc gần như không có. Điều này đặc biệt rõ ở nông thôn Việt nam với hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng để hưởng thụ văn hóa, y tế chữa bệnh khi ốm đau, không đủ nhu cầu mặc, nhà ở. phần tích lũy hầu như không có.
- Xóa đói: là làm cho bộ phận dân cư nghèo từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. - Giảm nghèo: chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ đánh giá và số lượng người nghèo giảm xuống, nói cách khác, là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. - Giảm nghèo bền vững: là kiên quyết không để tái nghèo, là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện sản xuất, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (như y tế, giáo dục, nước sạch…), bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình cải cách kinh tế, bảo đảm thoát nghèo bền vững hay không 8 Luan van tái nghèo.
- Chính sách: là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa do chủ thể là cơ quan quyền lực hoặc cơ quan quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nhất định trong chiến lược phát triển của một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp. theo định nghĩa khác, Chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân. Như vậy, phân tích khái niệm cho thấy “chính sách” là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra. Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế, nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó.
- Thực hiện các chính sách về giảm nghèo bền vững: là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước tới các hoạt động giảm nghèo,cụ thể như hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo; hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án giảm nghèo; huy động mọi nguồn lực tài chính để đầu tư cho các chương trình dự án giảm nghèo; hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo. Qua đó, góp phần giúp người nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và vươn lên thoát nghèo bền vững. Về cơ bản, giải quyết đói nghèo cần đảm bảo cả về số lượng lẫn chất lượng, số lượng giảm nghèo sẽ tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một thời gian (theo từng giai đoạn từ 1- 5 năm). Chất lượng giảm nghèo là khái niệm chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, thu hẹp khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác, khi gặp rủi ro, bất trắc sẽ không bị rơi lại 9 Luan van vào tình trạng nghèo đói.
Hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo. Theo các nhà nghiên cứu, chuyên gia về kinh tế - xã hội, lao động - việc làm: để giảm nghèo bền vững cần hỗ trợ phát triển kinh tế hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào các nguồn lực sẳn có của địa phương, của cộng đồng để người nghèo, hộ nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo. Theo PGS, TS Trần Đình Thiên: “không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống. Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững; muốn giảm nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì.
Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro… Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”. Khái niệm trên có nghĩa rằng, chúng ta tặng “cần câu” thay vì tặng “con cá”, và tạo ra động lực thúc đẩy để người dân người dân chủ động trong việc thoát nghèo bằng chính năng lực của mình chứ không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm, cộng đồng. Bên cạnh đó, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ, xây dựng các biện pháp để phòng ngừa các rủi ro không mong muốn từ các yếu tố con người, xã hội, tự nhiên mang lại, việc này đóng vai trò cực kì quan trọng để giúp cho người nghèo có thể chuyển đổi phương thức sản xuất khi phương thức cũ không còn phù hợp, có thể tìm được việc làm mới, tạo ra được nguồn thu nhập bổ sung. Ngoài ra, những chương trình giảm nghèo đặc thù cho những đối tượng cụ thể, một số vùng nhằm tạo sức lan tỏa là hết sức cần thiết trong điều kiện nguồn lực hạn chế của chúng ta hiện nay.
Do vậy, quan điểm giảm 10 Luan van nghèo bền vững ở nước ta chính là cần nắm bắt các xu hướng và đặc điểm vận động của các nhân tố tác động đến chất lượng của giảm nghèo và giải quyết đồng thời tất cả những vấn đề, bất cập nêu trên. Chính sách XĐGN là sự cụ thể hóa Nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng bằng những quyết định, quy định của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề về đói nghèo. Nó phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng, của các nhóm xã hội nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến bộ phận dân cư nghèo đói, đảm bảo quyền con người và an toàn xã hội cho người nghèo, tạo sự phát triển bình thường cho người nghèo cũng như cho toàn xã hội. Chính sách XĐGN được thiết kết theo một cấu trúc cụ thể: Phạm vi và đối tượng của chính sách; mục tiêu của chính sách; giải pháp của chính sách; nguyên tắc chỉ đạo thực hiện chính sách; nguồn vốn thực hiện chính sách, cơ quan quản lý và thực hiện chính sách; thời gian triển khai chính sách.
Các tiêu chí đánh giá hộ nghèo Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được xác định như sau: - Hộ nghèo ở nông thôn: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000đ/ người/tháng (từ 8.000đ/năm) trở xuống; - Hộ nghèo ở thành thị: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000đ/người/ tháng (từ 10.000đ/năm) trở xuống; - Hộ cận nghèo ở nông thôn: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000đ/người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; - Hộ cận nghèo ở thành thị: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 11 Luan van 900.000đ/người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, theo đó hộ thoát nghèo bao gồm: - Hộ thoát nghèo và trở thành hộ cận nghèo; - Hộ thoát nghèo vượt qua mức chuẩn hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ mức sống trung bình trở lên (tiêu chí xác định mức sống trung bình theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ).