Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững là một khái niệm mới ở Việt Nam vẫn chưa được kết luận dưới góc độ là một khoa học, từ khái niệm, nội dung và các yếu tố cấu thành. Để tìm hiểu về giảm nghèo bền vững, trước hết chúng ta tìm hiểu các yếu tố có liên quan đến nội dung này.
Trước hết, thuật ngữ phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tươnglai xa. Thuật ngữ phát triển bền vững được Hiệp hội bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế IUCN sử dụng lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới với nội dung “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Khái niệm này được sử dụng phổ biến hơn vào năm 1987 trong báo cáo của Uỷ ban môi trường và Phát triển thế giới WCED. Kinh tế bền vững: có ý nghĩa quyết định trong phát triển bề vững. Đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế cần tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển xã hội bền vững và môi trường bền vững.
Xã hội bền vững: đòi hỏi sự phát triển, sự công bằng và xã hội phải trú trọng cho phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người có cơ hội phát triển tiềm năng và có điều kiện sống ngày càng tốt hơn. Trong tuyên bố chung của Hội nghị thưởng đỉnh Rio+20 (12/2012) đã khẳng định: “ Không thể phát triển bền vững chừng nào thế giới còn đói nghèo và cùng khổ. Như vậy muốn giảm nghèo bền vững, Nhà nước, cơ quan chức năng trong thực hiện các chương trình giảm nghèo cần quan tâm đến việc phải cấp e 5 cho người nghèo một phương thức phát triển mới để họ có thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó cần quan tâm đến sự hỗ trợ, ngăn ngừa và loại trừ các yếu tố gây rủ ro, đặc biệt là sự hỗ trợ giảm nghèo cần được ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận.
Như vậy tuy chưa có một khái niệm chung, đầy đủ cho “ giảm nghèo bền vững” nhưng có thể hiểu là để giảm nghèo bền vững cần phải kết hợp và thỏa mãn cả hai yêu cầu đó là giảm nghèo và phát triển bền vững điều đó thể hiện trên các khía cạnh tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo, ổn định và không ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên và xã hội. Việc giảm nghèo phải phải đảm bảo được sự phát triển bền vững trên các mặt kinh tế, xã hội. Như vậy có thể hiểu “giảm nghèo bền vững” là quá trình giảm nghèo đảm bảo được sự cải thiện đồng thời của sự bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường của một nước, một địa phương, một cộng đồng dân cư hay của một hộ gia đình. Khái niệm nghèo Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo nhưng phổ biến hơn cả là “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.
“Theo nghĩa tuyệt đối, nghèo khổ là một trạng thái mà các các nhân thiếu những nguồn lực thiết yếu để có thể tồn tại”(Nguyễn Vũ Phúc, 2012). “Theo nghĩa tương đối, là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương xem xét” (Nguyễn Vũ Phúc, 2012). Những định nghĩa về nghèo đói được thay đổi nhiều lần theo thời gian và không gian khác nhau. Bởi ranh giới của nghèo đói là không được hưởng hoặc được hưởng rất ít và không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người.
Do vậy, để đánh giá đúng mức độ của nghèo đói, thế giới thường dùng khái niệm “nghèo khổ” và nhận định nghèo khổ theo 4 khía cạnh sau: e 6 Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người sống dưới mức “chuẩn” trong suốt một thời gian dài để phân biệt với số người nghèo khổ “tình thế” như những người thất nghiệp, hoặc do khủng hoảng kinh tế, thiên tai, chiến tranh, tệ nạn xã hội, rủi ro. Về không gian: Về mặt này thì nghèo đói diễn ra chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi, nơi có nhiều người sinh sống (Nguyễn Vũ Phúc, 2012). Về giới: Theo thống kê thì những người nghèo đói là phụ nữ đông hơn là nam giới, trong những hộ nghèo nhất thì đa phần là do người phụ nữ là chủ 6 hộ hay chủ gia đình, còn trong những hộ nghèo đó do người đàn ông làm chủ hộ thì người phụ nữ lại khổ hơn nam giới (Nguyễn Vũ Phúc, 2012). Về môi trường: Đối với những nước ở vùng sinh thái khắc nghiệt thì tỷ lệ người nghèo khá đông, ở những nước này tình trạng nghèo đói và sự xuống cấp về môi trường sinh thái ngày một trầm trọng thêm (Nguyễn Vũ Phúc, 2012).
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006). Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội Tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006). e 7 Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) ông Abaplaen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng sự khác nhau để phân biệt giữa họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống và thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn người nghèo.
* Ở Việt Nam đói và nghèo thường được chia ra làm hai khái niệm riêng biệt: Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006). Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Sự nghèo khổ, sự bần cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006). Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở 7 mức độ cá nhân và cộng đồng.
Nghèo, đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ thiếu ăn từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng. Đói là thang thấp nhất của nghèo, đói thuần túy là đói ăn, đói nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần. e 8 Đói cũng có hai dạng là đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt): - Đói kinh niên là một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro tại thời điểm đang xét.
- Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét. Qua đây có thể thấy được các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: - Không được hưởng những nhu cầu cơ bản nhất ở mức độ tối thiểu dành cho con người. - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
Chuẩn mực xác định nghèo đói 1. Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP (purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD. Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000 USD/người/năm là nước khá giàu.000 USD/ngươi/năm là nước trung bình.
+ Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo. + Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo. Tuy nhiên theo phương pháp trên, việc chuyển đổi thường bị sai lệch không phản ánh được tính ngang của sức mua. Do đó từ đầu thập niên 90 của e 9 thế kỉ XX, Liên hợp quốc đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP) (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006).
Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau: + Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0. + Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày.