Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan. Thể dục thể thao quần chúng và phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng. Khái niệm Thể dục thể thao quần chúng.
Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006): “Thể thao cơ sở (quần chúng) chỉ nhằm đạt trình độ phổ thông “phong trào”, chủ yếu để giữ gìn và nâng cao sức khỏe, thể lực chung và giải trí, hồi phục, phục vụ cho hoạt động chính - lao động, học tập, công tác. Tài liệu “Quản lý công tác thể dục thể thao công nhân viên chức” của Du Kế Anh có khái niệm: “Thể dục thể thao quần chúng là cuộc vận động tập luyện của quảng đại quần chúng vì mục tiêu nâng cao sức khỏe và động viên tinh thần cho mọi người…” [1]. Tác giả Phạm Đình Bẩm cho rằng: “Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện, biểu diễn TDTT mang tính tự nguyện của đông đảo nhân dân, không phân biệt đối tượng, giới tính, tuổi tác, tôn giáo…” [20]. Mục tiêu quan trọng của thể dục thể thao quần chúng là làm sao để nhiều người bao gồm cả già trẻ, trai gái có thể tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, đồng thời việc tập luyện phải mang lại hiệu quả thiết thực cho cuộc sống hàng ngày.
Theo Phạm Trọng Thanh trong tác phẩm Thể dục thể thao và lối sống lành mạnh có viết: “Thể dục thể thao quần chúng là những hoạt động tập thể mang tính tự nguyện của đông đảo nhân dân với nhiều nội dung và hình thức khác nhau, phù hợp với tâm lý, nguyện vọng, điều kiện, tập quán và nhu cầu của từng đối tượng” [75]. Phân tích xã hội học của thể dục thể thao quần chúng tác giả Lương Kim Chung có đề cập: Các tổ chức thể dục thể thao thế giới hiện dùng khái 6 niệm thể dục thể thao cho mọi người đồng nghĩa với thể dục thể thao quần chúng ở nước ta. “ Thể dục thể thao quần chúng chỉ là hoạt động thể dục thể thao của mọi người, mọi lứa tuổi, đối tượng với nội dung phong phú, hình thức sinh động của công nhân, nông dân, cư dân đường phố, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên nhằm tăng cường sức khỏe làm mục đích chủ yếu …hoạt động mang tính nghiệp dư, tự nguyện làm phương thức cơ bản và tạo cơ hội để mọi người thực hiện quyền hoạt động TDTT, nên không có tính cưỡng chế…” [56]. Điều 41, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc và nhân dân; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng.
Trong chương II, điều 7 - Pháp lệnh thể dục, thể thao đã chỉ rõ: “Thể dục, thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện, biểu diễn và thi đấu thể dục thể thao mang tính tự nguyện của đông đảo nhân dân. Nhà nước phát triển thể dục, thể thao quần chúng nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển hài hòa các yếu tố về thể chất và tinh thần của con người” [68]. Tuy có nhiều các văn bản của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, các Bộ ban nghành, cùng nhiều tác giả, nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu về thể dục thể thao quần chúng nhưng đều có những đặc điểm chung: Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện mang tính tự nguyện, nhằm đạt trình độ phổ thông của đông đảo nhân dân, không phân biệt đối tượng, giới tính, tuổi tác, tôn giáo. Mục tiêu quan trọng của thể dục thể thao quần chúng là làm sao để nhiều người bao gồm cả già trẻ, trai gái có thể tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, đồng thời việc tập luyện phải mang lại hiệu quả thiết thực cho cuộc sống hàng ngày.
Hình thức tổ chức hoạt động thể dục thể thao quần chúng bao gồm: Tập luyện tự giác của cá nhân tại gia đình, nơi sinh sống, nơi 7 làm việc; Tập luyện có tổ chức của quần chúng trong các loại hình câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở, các điểm vui chơi giải trí, các liên đoàn, hội thể thao quần chúng; Tổ chức các giải thể thao, ngày hội Văn hóa - Thể thao, Đại hội Thể dục thể thao; Tổ chức các đội tuyển thể thao của đơn vị, địa phương để tham gia thi đấu các giải thể thao quần chúng từ các phân xưởng trong nhà máy, xí nghiệp, đến các cấp xã, huyện, tỉnh tổ chức. Phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng. Phong trào thể dục thể thao đó là một trào lưu xã hội (tự phát, tự động có tổ chức, rộng hẹp theo nhiều góc độ khác nhau), bao gồm nhiều người hoạt động hợp tác với nhau, nhằm chủ yếu, trực tiếp sử dụng, phổ biến và nâng cao những giá trị của TDTT [78]. Trên cơ sở thực tiễn phát triển thể dục thể thao trong xã hội, xuất hiện và mở rộng gắn liền với trào lưu xã hội được gọi là "phong trào thể thao”.
Ngày nay phong trào thể thao đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, trở thành một phong trào quốc tế của loài người (phong trào Olympic và các hình thức khác của phong trào thể thao quốc tế…). Thể thao cơ sở (quần chúng) lại chỉ đạt trình độ phổ thông “phong trào”, chủ yếu để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, thể lực chung và giải trí, hồi phục, phục vụ cho hoạt động chính - lao động, học tập quân sự, vì vậy nếu chỉ tập ở mức độ thể thao “phong trào” thì rất khó có thành tích cao. Từ những năm 1960 Đảng Lao động Việt Nam đã có những định hướng rõ ràng “ … cần lấy việc mở rộng phong trào làm chính, không bó hẹp trong một số ít tổ chức hoặc một vài môn, đồng thời cần quan tâm đúng mức đến việc nâng cao trình độ chuyên môn” [4]. Năm 2006 Luật TDTT ra đời, Điều 11 xác định: “Nhà nước có chính sách đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thể dục, thể thao quần chúng, tạo cơ hội cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, giới tính, sức khoẻ, tình trạng khuyết tật được thực hiện quyền hoạt động thể dục, thể thao để nâng cao sức khoẻ, vui chơi, giải trí” [64].
8 Phong trào thể dục, thể thao quần chúng được đánh giá: “Chỉ tiêu số người tập luyện thường xuyên và gia đình thể thao. Việc tổ chức, đánh giá phong trào thể dục, thể thao quần chúng tại địa phương được thực hiện theo hướng dẫn của Uỷ ban Thể dục thể thao (nay là Tổng cục TDTT)” [64]. Còn phong trào thể dục thể thao quần chúng chính là phong trào TDTT chủ yếu để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, thể lực chung và giải trí, hồi phục, phục vụ cho hoạt động chính (lao động, học tập, quân sự.), hình thành thói quen rèn luyện thân thể cho mọi người. Quan điểm phát triển TDTT quần chúng.
TDTT phải đảm bảo tính dân tộc, khoa học, nhân dân, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, do đó: Lôi cuốn ngày càng đông đảo nhân dân ở các lứa tuổi, các đối tượng, các địa bàn và hình thành thói quen tập thể dục thể thao hàng ngày; quy mô phát triển trong các bộ phận dân cư, địa bàn ngày càng rộng. Thể hiện tính dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Việt Nam trong thể dục thể thao. Khôi phục và phát triển các môn thể thao dân tộc truyền thống, gắn thể dục thể thao với văn hóa cơ sở, từng bước luật hóa và nâng cao trình độ tạo điều kiện hòa nhập, giao lưu với thế giới làm cho thể dục thể thao Việt Nam phát triển ngày càng phong phú, đa dạng. Coi trọng chất lượng và hiệu quả tập thể dục thể thao của quần chúng, không ngừng kết hợp với thi đấu, biểu diễn để đánh giá phong trào.
Tập trung phát triển TDTT ở các cơ sở, từng bước hinh thành mạng lưới đơn vị thể dục thể thao; quan tâm thích đáng đến các vùng sâu, vùng xa để dần dần đạt trình độ phát triển giữa các vùng và khu vực. Phát triển TDTT quần chúng theo hướng phổ cập rộng rãi, xã hội hóa có sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước [70]. Thể lực, duy trì và phát triển thể lực. Khái niệm thể lực.
Trong lý luận và phương pháp TDTT, tố chất thể lực (tố chất vận động) là những đặc điểm, những mặt, những phần tương đối riêng biệt về khả năng 9 vận động của con người. Bao gồm thể hình và các tố chất vận động (sức bền, sức nhanh sức mạnh, độ dẻo, khả năng phối hợp vận động) [52], [78]. Bên cạnh các yếu tố hiểu biết, đạo đức, ý chí, kỹ thuật và chiến thuật, thể lực là một nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người. Hai thuật ngữ tố chất thể lực hay tố chất vận động thực chất tương đồng với nhau vì đều chủ yếu nói đến những nhân tố, đặc điểm, mặt tương đối khác nhau về thể lực của con người.
Duy trì và Phát triển thể lực. Theo Từ điển Tiếng Việt: Duy trì là giữ cho tiếp tục tồn tại trong tình trạng như cũ (cái đang có chiều hướng giảm sút hoặc mất đi) [69]. Duy trì thể lực: Giữ cho thể lực (khả năng vận động) của con người luôn ở trạng thái ổn định không bị giảm sút đi. Trong lĩnh vực TDTT nói chung, đặc biệt trong lĩnh vực hoạt động thể dục thể thao của công nhân nói riêng thì công tác giáo dục tuyên truyền để duy trì được thể lực, ổn định trong lao động sản xuất có một ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Giáo dục tuyên truyền có ý nghĩa, lợi ích của tập luyện TDTT, làm sao tạo cho người tập có niềm tin, có hứng thú, động cơ đúng với hoạt động TDTT là một việc cần phải làm thường xuyên. Phát triển thể lực: Rèn luyện (phát triển) thể lực lại là một trong hai đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình giáo dục thể chất. Là tiền đề quan trọng để con người có thể đạt được hiệu quả cao trong hoạt động học tập, lao động sản xuất và chiến đấu. Là một quá trình giáo dục chuyên môn, chủ yếu bằng hệ thống bài tập nhằm hoàn thiện các năng lực thể chất, đảm bảo đạt thành tích cao nhất.
Trong giáo dục thể lực gồm giáo dục thể lực chung và giáo dục thể lực chuyên môn.