Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết về marketing, định hướng Marketing và hiệu quả hoạt động kinh doanh, cũng như mối liên hệ giữa Định hướng Marketing và Hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa định hướng Marketing và hiệu quả hoạt động kinh doanh. Bản chất của Marketing: 1. Khái niệm Marketing: Trải qua trên 100 năm hình thành và phát triển, nôi dung của Marketing đã có nhiều thay đổi, khi dịch sang tiếng nước khác khó thể hiện đầy đủ và trọn vẹn.
Do vậy nhiều nước vẫn giữ nguyên thuật ngữ bằng tiến Anh để sử dụng. Tại Việt Nam, thuật ngữ này thường được sử dụng thay cho từ “Tiếp thị” và nhất là trong chuyên môn. Marketing là gì? Nhiều người bao gồm các nhà quản trị kinh doanh cho rằng marketing là bán hàng, quảng cáo, hoặc nghiên cứu thị trường. Những công việc này là những việc cụ thể của marketing, chưa bao hàm toàn bộ hoạt động marketing.
Dưới đây là một số quan điểm và khái niệm về mareting hiện đại được các tổ chức, hiệp hội và các nhà nghiên cứu về Marketing trên thế giới được chấp nhận và phổ biến trong những thập niên gần đây: Giáo trình Quản trị marketing của trường Đại học Kinh tế quốc dân đưa ra định nghĩa như sau: “Marketing là tập hợp các hoạt động của công ty nhằm thõa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu thông qua quá trình trao đổi, giúp công ty đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”. Theo AMA (American Marketing Association, 1985): “ Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện sáng tạo, định giá, xúc tiến và phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những mục tiêu cá nhân và tổ chức”. 8 Theo CIM ( UK’S Chartered Institute of Marketing): “ Marketing là một quá trình quản trị nhận biết, dự đoán đáp ứng nhu cẩu của khách hàng một cách có hiệu quả và có lợi”. Theo Groroos ( 1990): “ Marketing là những hoạt động thiết lập, duy trì và cũng cố lâu dài những mối quan hệ với khách hàng một cách có lợi để đáp ứng mục tiêu của các bên.
Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi giữa các bên và thỏa mãn những hứa hẹn”. “ Marketing là một hệ thống các hoạt động kinh doanh thiết kế để hoạch định, định giá, xúc tiến và phân phối các sản phẩm thỏa mãn mong muốn của thị trường mục tiêu nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức”. Theo Philip Kotler ( 2008): “ Marketing là tiến trình công ty tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ với khách hàng nhằm đạt được giá trị từ những phản ứng của khách hàng”. Theo AMA (2007): “ Marketing là hoạt động, tập hợp các thể chế và quy trình nhằm tạo dựng, tương tác, mạng lại và thay đổi các đề xuất có giá trị cho người tiêu dùng, đối tác cũng như cả xã hội nói chung” Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét sau: - Marketing là tiến trình quản trị.
Marketing cần được xem là một bộ phận chức năng trong một tổ chức và cần có nhiều kỹ năng quản trị. Marketing là hoạch định, phân tích, sắp xếp, kiểm soát và đầu tư các nguồn lực vật chất và con người. - Toàn bộ các hoạt động Marketing hướng theo khách hàng ( Customer- oriented). Marketing phải nhận ra và thỏa mãn những yêu cầu, mong muốn của khách hàng.
Marketing bắt đầu từ ý tưởng về “ sản phẩm thỏa mãn mong muốn” ( Want-satisfying product) và không dừng lại những mong muốn của khách hàng đã đạt được mà vẫn tiếp tục sau khi thực hiện thay đổi. - Để làm khách hàng hài lòng hơn, các nhà Marketing không chỉ quan tâm đến đặc trưng của sản phẩm mà còn chú ý đến những lợi ích và trải nghiệm do sản phẩm tạo ra cho khách hàng. 9 - Marketing thõa mãn nhu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả và có lợi. Một tổ chức không thể thỏa mãn tất cả mọi người trong một lúc, các nhà làm Marketing đôi khi phải có sự điều chỉnh.
Hiệu quả ở đây có ngụ ý là các hoạt động phải phù hợp với khả năng nguồn lực của tổ chức, với ngân sách và với mục tiêu thực hiện của bộ phận Marketing. Marketing được thực hiện trong các tổ chức phi lợi nhuận cũng như cần quản trị có hiệu quả, kiểm soát chi phí nhưng không vì lợi nhuận. Trái lại, trong các công ty khả năng tạo lợi nhuận phải được xem xét một cách chính đáng. Tuy nhiên, một số công ty chấp nhận chịu lỗ trên một vài sản phẩm hoặc khu vực thị trường để hướng đến mục tiêu chiến lược rộng hơn, lâu dài hơn nhưng điều này phải được hoạch định và kiểm soát.
Nói chung, một công ty không tạo ra lợi nhuận thì không thể tồn tại. Do vậy, Marketing có nhiệm vụ duy trì và gia tăng lợi nhuận. - Trao đổi là khái niệm tạo nền móng cho Marketing. Tuy nhiên, các hoạt động Marketing lại tạo điều kiện cho quá trình trao đổi diễn ra thuận lợi nhằm mục đích thỏa mãn những đòi hỏi và ước muốn của con người.
Những hoạt động Marketing thực hiện nhằm xây dựng và duy trì những mối quan hệ trao đổi có giá trị. Các nhà quản trị Marketing muốn xây dựng những quan hệ vững chắc với khách hàng phải tạo ra và cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng. - Nội dung Marketing bao gồm thiết kế, định giá, xúc tiến và phân phối sản phẩm. Marketing dùng những phương pháp này để kích thích sự trao đổi.
Bằng việc thiết kế, tạo sự tinh tế cho sản phẩm, đưa ra giá bán hợp lý, xây dựng nhận thức và ưa thích, đảm bảo khả năng cung cấp, các nhà Marketing có thể làm gia tăng mức bán. Do vậy, Markeitng có thể được xem là một hoạt động quản trị nhu cầu thị trường. - Những khái niệm Marketing mới trong những năm gần đây nhấn mạnh hoạt động Marketing được thực hiện nhằm tạo giá trị cho khách hàng và xây dựng, duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Dưới góc độ kinh doanh, Marketing bao hàm những hoạt động xây dựng khả năng sinh lợi và những mối quan hệ trao đổi có giá trị với khách hàng.
Trong tiến trình Marketing những bước đầu tiên đều tập 10 trung vào những công việc nhằm hiểu khách hàng, tạo ra giá trị dành cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng. Thông qua đó, công ty thu lợi nhờ tạo ra giá trị vượt trội cho khách hàng. Theo Philip Kotler, bằng việc sáng tạo giá trị dành cho khách hàng, công ty sẽ nhận được giá trị từ khách hàng thể hiện qua doanh số, lợi nhuận, hơn thế nữa là tài sản nhận được từ quan hệ với khách hàng trong dài hạn. Một số khái niệm mở rộng của Marketing: Theo Philip Kotler & Kenvin Lane Kelle (2013) thì Marketing tích hợp: diễn ra khi chuyên gia marketing chia hoạt động marketing và tập hợp các chương trình marketing để tạo dựng, truyền bá và chuyển giao giá trị cho người tiêu dùng.
Theo Philip Kotler & Kenvin Lane Kelle (2013) thì Marketing nội bộ (internal marketing): là những hoạt động diễn ra trong công ty, mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên, giữa các bộ phận chức năng, giữa nhân viên với nhân viên được giải quyết theo quan điểm của marketing. Marketing nội bộ có nhiệm vụ tuyển dụng, đào tạo và tạo ra động cơ phấn đấu cho nhân viên, những người mong muốn phục vụ khách hàng ở mức tốt nhất. Điều này cho thấy rằng, mọi người trong công ty tuân theo các nguyên tắc marketing phù hợp, đặc biệt là ban quản lý cao cấp. Công ty được coi là thị trường nội bộ và mọi người trong công ty đều là khách hàng của nhau.
Những chuyên gia marketing thông minh thừa nhận rằng, các hoạt động marketing trong phạm vi công ty có thể đóng vai trò quan trọng hơn so với các hoạt động bên ngoài công ty. Công ty sẽ không thể cung cấp dịch vụ hoàn hảo cho khách hàng một khi nhân viên của công ty chưa sẵn sàng để làm việc đó. Marketing không phải đơn thuần là trách nhiệm của một bộ phận đơn lẻ nào mà là của cả công ty nhằm hướng đến tầm nhìn, sứ mệnh và hoạch định chiến lược. Marketing sẽ thu được thành công khi tất cả các bộ phận đều hợp tác cùng nhau để đạt được mục tiêu chung: khi bộ phận kỹ thuật thiết kế những sản phẩm phù hợp, bộ phận tài chính sẽ tính toán các khoản ngân sách, còn bộ phận mua hàng sẽ lo khâu nguyên vật liệu, bộ phận sản xuất sẽ tạo ra sản phẩm đúng hạn trong khi bộ phận kế toán đánh giá mức độ lợi nhuận.
Tuy nhiên, sự tương tác nhịp nhàng giữa các bộ phận trong công ty có 11 thể tạo ra sự đồng vận chỉ khi bộ phận quản lý truyền tải rõ ràng tầm nhìn về cách thức định hướng marketing của công ty và triết lý phục vụ khách hàng. Theo Philip Kotler & Kenvin Lane Kelle (2013) thì Marketing quan hệ (Relationship marketing): mục tiêu của marketing quan hệ là hướng đến việc xây dựng mối quan hệ dài hạn đáp ứng nhu cầu của con người, công ty với các thành phần nhằm phục vụ mục tiêu kinh doanh. Bốn thành phần quan trọng trong marketing mối quan hệ là người tiêu dùng, nhân viên, các đối tác marketing (kênh, nhà cung ứng, phân phối, nhà bán buôn, đại lý) và các thành viên của cộng đồng tài chính (cổ đông, nhà đầu tư, chuyên gia phân tích). Các chuyên gia marketing cần tạo ra sự thịnh vượng cho tất cả các thành phần tham gia và cân bằng lợi nhuận cho tất cả các bên hữu quan.
Và để phát triển mối quan hệ lâu dài với các thành phần này, công ty cần phải hiểu được năng lực, nguồn lực, nhu cầu, mục tiêu và mong muốn của họ. Kết quả lý tưởng của marketing mối quan hệ chính là tài sản của công ty với tên gọi là mạng lưới marketing (marketing network), bao gồm công ty và các bên hữu quan của công ty đó. Nguyên tắc vận hành khá đơn giản: xây dựng một mạng lưới hiệu quả các mối quan hệ với các bên hữu quan và lợi nhuận sẽ được tạo ra từ mối quan hệ đó. Như vậy nhiều công ty đang lựa chọn việc sở hữu thương hiệu của mình thay vì tài sản vật chất.