CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hệ thống thương mại Kênh phân phối là tập hợp các tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, kết hợp tất cả các thành viên tham gia bao gồm: nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý và người tiêu dùng. Hệ thống thương mại là một phần của kênh phân phối, xét về phương diện loại hình kinh doanh bao gồm: chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tạp hóa, bách hóa…xét về phương thức kinh doanh gồm có bán buôn, bán lẻ, kinh doanh tổng hợp và chuyên doanh. Dựa vào thời gian xuất hiện và phương thức phục vụ, hệ thống thương mại được phân chia thành 2 loại: thương mại truyền thống và thương mại hiện đại.1 Loại hình thương mại truyền thống Các loại hình thương mại truyền thống bao gồm các loại chợ (chính thức và tự phát), các tiệm tạp hóa trong khu dân cư. Loại hình thương mại này có từ lâu đời, gắn liền với việc phát triển các đô thị.
Theo Sở Công thương thành phố HCM, kênh phân phối có qua chợ đầu mối tại thành phố HCM (Hồ Chí Minh) như hình 1.1 Nước ngoài Ngoại thành Các tỉnh Chợ đầu mối Siêu thị Các chợ Cửa hàng Cơ sở sản xuất, Hộ gia đình Hình 1.1 Sơ đồ kênh phân phối qua chợ đầu mối tại TP HCM [7] 6 1.1 Chợ chính thức a. Định nghĩa Chợ là loại hình thương mại lâu đời của nước ta, quá trình phát triển của chợ truyền thống gắn liền với việc phát triển các đô thị. Tuy nhiên, đến năm 2003, khi Nghị định 02 về phát triển và quản lý chợ được ban hành, loại hình chợ mới được định nghĩa, theo đó chợ truyền thống được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư, đáp ứng các yêu cầu về quản lý của nhà nước được xem là chợ chính thức. Phân loại chợ Dựa vào quy mô, vai trò của chợ đối với khu vực, các hệ thống phụ trợ cho chợ, chợ chính thức được chia làm 3 loại, việc phân chia loại chợ phục vụ cho công tác quản lý.
Chợ loại 1 - Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch; - Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức họp thường xuyên; - Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ : trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác. Chợ loại 2 - Là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; 7 - Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên; - Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ : trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường. Chợ loại 3 - Là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. - Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận.
Mô hình quản lý chợ Mô hình quản lý chợ truyền thống được tổ chức dưới 2 hình thức: Ban quản lý chợ và doanh nghiệp quản lý chợ Ban quản lý chợ Ban Quản lý chợ là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải các chi phí, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng tại kho bạc nhà nước. Doanh nghiệp quản lý chợ Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, được giao quản lý kinh doanh chợ do tư nhân đầu tư hoặc trúng thầu quản lý kinh doanh khai thác chợ do nhà nước xây dựng thông qua việc đấu thầu. Đơn vị quản lý chợ (Ban quản lý hoặc doanh nghiệp quản lý chợ) có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau: Tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ. Bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ.
8 Xây dựng Nội quy chợ theo quy định để trình Ủy ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ; tổ chức điều hành chợ hoạt động theo Nội quy chợ và xử lý các vi phạm về nội quy chợ. Bố trí, sắp xếp các khu vực kinh doanh bảo đảm các yêu cầu về trật tự, vệ sinh, văn minh thương mại và phù hợp với yêu cầu của thương nhân kinh doanh tại chợ. Tổ chức thông tin kinh tế; phổ biến chính sách, quy định của pháp luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng. Tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản lý Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Công thương.[3] Định hướng đối với mô hình quản lý chợ + Đối với chợ xây dựng mới, giao hoặc tổ chức đấu thầu để lựa chọn doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ.
+ Đối với chợ đang hoạt động do Ban Quản lý chợ điều hành, từng bước chuyển sang mô hình ban quản lý chợ trên đây. Các căn cứ pháp lý trong công tác quản lý chợ Theo quy định tại Nghị định 02 và các văn bản quy định trong lĩnh vực quản lý chợ, một chợ được xem là đầy đủ các căn cứ pháp lý khi có đủ các yêu cầu: + Có quyết định công nhận chợ. + Có nội quy chợ được duyệt + Có sơ đồ bố trí ngành hàng được phê duyệt + Có hợp đồng thuê điểm kinh doanh với tiểu thương.2 Chợ tự phát (các điểm kinh doanh tự phát) Là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng chợ tự phát sinh hoặc được xây dựng không theo quy hoạch, không đạt được các quy chuẩn của Nghị định 02. [2] Do không được công nhận nên cũng không có các văn bản quy định phân loại đối với chợ tự phát.
Dựa vào tình hình thực tế, Sở Công thương, UBND quận huyện tự phân chia các loại hình chợ tự phát dựa theo vị trí phát sinh, định hướng quản lý. Từ năm 2009 trở về trước, ngoài loại hình chợ tự phát còn có loại hình tụ điểm kinh doanh để chỉ những khu vực tập trung mua bán hàng hóa thiết yếu, có sự quản lý (như tổ tự quản, tổ quản lý chợ, được các đơn vị quản lý cho phép, tồn tại trong một thời gian nhất định cho trước…). Từ năm 2009 đến nay (khi Quyết định 17 thay thế quyết định 144 năm 2009), còn công nhận loại hình chợ tạm: dùng để chỉ các chợ chưa phù hợp theo quy hoạch hoặc chưa đủ chuẩn theo nghị định 02. Chợ tự phát gây những ảnh hưởng tiêu cực đối với giao thông, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng, đồng thời ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các chợ chính thức, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
Định hướng của thành phố đối với chợ tự phát là từng bước dẹp bỏ hoàn toàn: theo quyết định 144 năm 2003 của UBND thành phố HCM, mỗi quận huyện phải xây dựng lộ trình để cơ bản đến 2010, dẹp hoàn toàn chợ tự phát. Đến khi quyết định 144 được thay bằng quyết định 17 của UBND thành phố, phần chợ tự phát vẫn giữ nguyên định hướng là phải giải tỏa, sắp xếp nhưng thời gian theo lộ trình từng quận xây dựng, cơ bản đến 2015, thành phố không còn chợ tự phát.2 Hệ thống thương mại hiện đại Các loại hình thương mại hiện đại là thuật ngữ dùng để chỉ các loại hình kinh doanh mới phát triển ở Việt Nam từ những năm 1990, bao gồm siêu thị, trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện lợi. Sự phân biệt của loại hình này với hệ thống thương mại truyền thống chủ yếu dựa trên các tiêu chí văn minh, hiện đại, tiện lợi và vệ sinh. Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh các loại hình thương mại hiện đại nổi bậc nhất là siêu thị, trung tâm thương mại, đến 2003, khi thành phố HCM xây dựng và thực hiện chương trình bình ổn giá đối với các mặt hàng thiết yếu, các cửa hàng văn minh tiện lợi phát triển với tốc độ nhanh, có mặt trên hầu hết 24 quận/huyện.
Khái niệm về siêu thị Tại Mỹ, siêu thị là “cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn, có chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa” (Philip Kotler- marketing căn bản) Tại pháp, siêu thị được định nghĩa là cửa hàng bán lẻ theo phương thức 2 tự phục vụ có diện tích từ 400 đến 2500 m chủ yếu bán hàng thực phẩm (Marc Benoun, “marketing: Savoir et savoir – faire”, 1991) Tại Anh, người ta định nghĩa “Siêu thị là cửa hàng buôn bán tạp phẩm, bán thực phẩm, đồ uống và các loại hàng hóa khác, thường đặt tại thành phố dọc đường cao tốc hoặc trong khu buôn bán có diện tích khoảng 4. Tại Việt Nam, “ siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại, kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh, có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị 11 kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh, có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm của khách hàng”.[4] Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về siêu thị nhưng từ các định nghĩa khác nhau này, người ta vẫn tìm thấy những nét đặc trưng của siêu thị: đó là đáp ứng phương thức tự phục vụ và hàng hóa chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.