Chương 1: Tổng quan nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dầu silicone sang thị trường Trung Quốc Chương 2: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Chương 3: Thực trạng áp dụng các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu dầu silicone sang thị trường Trung Quốc của Công ty CP Austdoor Ninh Bình Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dầu silicone sang thị trường Trung Quốc của Công ty CP Austdoor Ninh Bình 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá 2. Khái niệm và vai trò xuất khẩu 2. Khái niệm xuất khẩu Xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu tiêu dùng của con người dần tăng lên.
Nhiều quốc gia trên thế giới phát triển từ rất sớm do đó họ có thể sản xuất một loại sản phẩm nào đó với quy mô lớn, có khả năng đáp ứng vượt xa nhu cầu trong nước, vì vậy giữa các quốc gia đã hình thành hoạt động trao đổi hàng hóa từ rất sớm. Và ngày nay một trong những hoạt động trao đổi đó được gọi là xuất khẩu. Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản xuất khẩu chính là việc đưa hàng hóa, dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện trao đổi và buôn bán. Mục đích của xuất khẩu là khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh của từng quốc gia, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán.
Cụ thể, Theo Điều 28, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội ban hành quy định: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Vai trò của xuất khẩu Sách giáo trình Kinh doanh quốc tế, PGS. Doãn Kế Bôn – TS. Lê Thị Việt Nga (2021) Nhà Xuất bản Hà Nội có đề cập đến vai trò của xuất khẩu.
Đây là hình thức kinh doanh quốc tế giúp các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ ra bên ngoài thị trường nội địa, giúp tăng doanh số bán hàng, đồng thời khai thác được tính kinh tế theo quy mô khi thị trường được mở rộng. Lựa chọn phương thức này giúp doanh nghiệp có thể bước đầu tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế bằng việc đưa hàng hóa, sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài nhưng không phải đối diện với nhiều rủi ro và đầu tư chi phí ban đầu lớn. Hiện nay hoạt động xuất khẩu được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế cả đối với hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, cũng như một số loại hình 9 dịch vụ như giáo dục, y tế, du lịch, hay tài chính. Các hoạt động này có vai trò giúp các doanh nghiệp và quốc gia xuất khẩu thu được lợi ích về kinh tế.
• Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp: - Tăng cường doanh thu và lợi nhuận: Xuất khẩu mở ra cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế, tăng cơ hội bán hàng và dịch vụ, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn thu nhập từ xuất khẩu có thể giúp doanh nghiệp đầu tư vào nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh. - Mở rộng thị trường và đa dạng hóa rủi ro: Xuất khẩu giúp doanh nghiệp giảm sự phụ thuộc vào thị trường nội địa và mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cơ hội kinh doanh và phát triển. Việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sẽ giúp giảm rủi ro doanh nghiệp khi phải đối mặt với biến động trong một thị trường cụ thể.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm và cạnh tranh: Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp thường phải nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Xuất khẩu giúp doanh nghiệp tiếp cận với các công nghệ mới và phương pháp sản xuất tiên tiến, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh. • Vai trò của xuất khẩu đối với quốc gia: - Tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm: Xuất khẩu là một yếu tố quan trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP của quốc gia, tạo ra nguồn thu nhập ngoại hối và nâng cao năng suất lao động. Hoạt động xuất khẩu tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới trong các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ liên quan đến việc sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho thị trường quốc tế.
Các doanh nghiệp xuất khẩu thường phải mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường nước ngoài, điều này thường dẫn đến việc tăng cường lực lượng lao động. - Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ: Bên cạnh những ngành sản xuất để xuất khẩu, hoạt động xuất khẩu cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và hậu cần như vận chuyển, logistics, và dịch vụ tài chính. Ngành xuất khẩu và ngành công nghiệp phụ trợ luôn bổ trợ và thúc đẩy nhau, tạo ra một mối liên hệ không thể tách rời. - Mở cửa cơ hội thị trường và thúc đẩy phát triển công nghiệp: Xuất khẩu mở ra cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp trong quốc gia, từ đó thúc đẩy 10 phát triển công nghiệp và tăng cường cạnh tranh.
Việc xuất khẩu có thể thúc đẩy việc đầu tư vào các ngành công nghiệp xuất khẩu và cơ sở hạ tầng liên quan. - Tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế: Xuất khẩu không chỉ tạo ra các mối quan hệ kinh tế mà còn thúc đẩy sự hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia, từ đó góp phần vào hòa bình và ổn định quốc tế. Việc thúc đẩy thương mại cũng có thể giúp giảm căng thẳng và xung đột giữa các quốc gia. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 2.
Xuất khẩu trực tiếp Trong Kỹ thuật Kinh doanh Xuất Nhập khẩu của GS.TS Võ Thanh Thu (2011) có đề cập: “Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu, trong đó người bán (người sản xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện xuất khẩu khác”. Hình thức xuất khẩu trực tiếp mang lại nhiều ưu điểm cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Nó giúp tối ưu hóa lợi nhuận bằng cách loại bỏ các chi phí trung gian, từ đó tăng cường khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Thứ hai, nó làm tăng uy tín cho doanh nghiệp khi hàng hóa đáp ứng được yêu cầu của đối tác giao dịch, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thâm nhập thị trường và tăng cường sự chủ động trong quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
Tuy nhiên, phương thức xuất khẩu trực tiếp cũng đi kèm với một số nhược điểm. Thứ nhất, không phải tất cả các doanh nghiệp đều có khả năng triển khai phương thức này, vì nó đòi hỏi một lượng vốn khá lớn và yêu cầu quan hệ tốt với đối tác giao dịch. Thứ hai, có nguy cơ phát sinh rủi ro và sai lầm khi giao dịch ở một thị trường mới, đặc biệt nếu doanh nghiệp không có đủ kiến thức và kinh nghiệm về ngoại thương. Điều này đòi hỏi người tiến hành phải có năng lực và kiến thức chuyên môn, cũng như phải dành thời gian tích lũy kinh nghiệm để thành công trong hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu gián tiếp (xuất khẩu ủy thác) Theo Giáo Trình Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế (Trường Đại học Thương mại): “Giao dịch qua trung gian là phương thức giao dịch trong đó mọi quá trình trao đổi giữa người mua và người bán (người bán và người mua có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau) để mua bán hàng hóa và dịch vụ đều phải thông qua người thứ ba gọi là các trung gian thương mại”. 11 Hình thức xuất khẩu thông qua việc ủy thác có một số ưu điểm đáng chú ý. Đầu tiên, nó giúp hạn chế rủi ro cho các doanh nghiệp bởi người đứng ra xuất khẩu không phải chịu trách nhiệm cuối cùng. Điều này giúp giảm bớt áp lực và trách nhiệm đối với doanh nghiệp, đặc biệt là trong các trường hợp phát sinh vấn đề liên quan đến giao dịch hoặc vận chuyển.
Thứ hai, không đòi hỏi vốn lớn, giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên, cũng có nhược điểm đi kèm. Mặc dù rủi ro có thể được giảm bớt, nhưng lợi nhuận thu được cho các doanh nghiệp ngoại thương thường không cao. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, việc thực hiện phương thức xuất khẩu này có thể dẫn đến việc mất một khoản phí ủy thác và không được tiếp cận trực tiếp với khách hàng nước ngoài, từ đó mất đi tính chủ động trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài ra việc phải tuân thủ những yêu cầu của bên nhận ủy thác có thể hạn chế sự linh hoạt và tự do trong quá trình kinh doanh. Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu hay giao dịch đối lưu trong thương mại quốc tế là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa trao đổi có giá trị tương đương nhau. Mục đích của việc trao đổi này không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương.TS Doãn Kế Bôn - Trường Đại học Thương mại) Có các hình thức buôn bán đối lưu bao gồm: hàng đổi hàng, giao dịch bù trừ, mua đối lưu, chuyển giao nghĩa vụ, bồi hoàn, mua lại. Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm như giúp doanh nghiệp tránh được sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, ngoài ra còn có lợi khi các bên không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho hàng nhập khẩu của mình.
Xuất khẩu tại chỗ Xuất khẩu tại chỗ là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu ngay chính đất nước của mình để thu ngoại tệ thông qua việc giao hàng bán cho các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam theo sự chỉ định của phía nước ngoài; hoặc bán hàng sang 12 khu chế xuất hoặc các xí nghiệp chế xuất đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.TS Võ Thanh Thu).