Mở đầu Chương 2: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Tổng quan Chương 4: Nội dung nghiên cứu và kết quả thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tầm quan trọng của ngành sản xuất mía đướng trong ngành kinh tế. Sản xuất mía đường của nước ta có những ý nghĩa chiến lược sau: ° Thay thế mặt hàng nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu trong nước: Đường là mặt hàng nhu yếu phẩm, nếu sản xuất trong ca nước không đáp ứng thì buộc phải nhập khẩu.000 tấn và theo dự báo của chương trình quốc gia thì nhu cầu đường của Việt Nam năm 2000 khoảng 960. Do đó, với những lợi thế so sánh của nước ta, nếu có một hệ thống giải pháp đồng bộ, hợp lý từ khâu chế biến, sản xuất, tiêu thụ thì không những ngành mía đường có thể đáp ứng tốt nhu cầu trong nước, thay thế hàng nhập khẩu mà còn có cơ hội để xuất khẩu đường tạo nguồn thu ngoại tệ. ° Tạo thêm việc làm, góp phần bế trí lại dân cư: Sản xuất mía đường là ngành sử dụng nhiều lao động, giải quyết được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, chương trình mía đường đã tạo thêm nhiều việc làm cho hơn 30.000 lao động công nghiệp, 600.000 lao động nông thôn và ổn định đời sống cho khoảng 1,4 triệu người với hơn 200.000 hộ gia đình. ° Phát triển ngành mía đường xoá đói giảm nghèo và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn: Chương trình mía đường đã vươn tới những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. tạo công ăn việc làm cho người nghèo, nâng cao thu nhập, còn tạo diéu kiện phát triển văn hoá, y tế, giáo duc, cơ sở hạ tầng nông thôn, hình thành các thị trấn, tụ điểm thương nghiệp và dịch vụ. ° Tăng thu nhập quốc dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa: Khi chương trình phát triển mía đường hoàn thiện, hàng năm san xuất 112 triệu tấn mía cây, chế biến khoảng | triệu tấn đường sẽ đóng góp khoảng 8.000 tỷ đồng từ các sản phẩm đường, sau đường hàng năm cho ngân sách nhà nước.
Đồng thời sản xuất mía đường còn cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến sản phẩm sau đường, bên cạnh đường như cồn, ván ép, điện. Do đó, phát triển ngành mía đường là động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp khác cùng phát triển theo hướng Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của cả nước. ® Nâng cao hiệu quả sử dung tài nguyên thiên nhiên và cai thiện môi trường: Cây mía có khả năng chịu hạn, chịu phèn cao, trồng trên đất mặn, phèn và đất cát. hệ số che phủ của lá rất cao, hạn chế xói mòn đất.
Với năng suất 80 tấn/ha cây mía sẽ trả lại cho đất khoảng 40 tán lá, rễ, gốc làm chất hữu cơ. Mặt khác nhu cầu sử dụng các loại hóa chất, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh bằng '/2 — !⁄4 so với nhiều loại cây trồng khác. Vì vậy, cây mía thực sự là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiêu quả sử dụng đất, đồng thời góp phần cải thiện môi trường.2 Nguyên liệu mía Cây mía (Saccharum Officinarum) hiện được xem là nguồn nguyên liệu chính đối với ngành công nghiệp sản xuất mía đường. Ở nước ta, cây mía đã được trồng từ rất lâu và cho đến nay vẫn không ngừng phát triển.
Tính đến thời điểm 2003, cả nước có trên 305.000 ha diện tích trồng mía, đạt sản lượng 14,5 triệu tấn mía cây phục vụ cung cấp cho 44 nhà máy đường trong cả nước, chế biến được khoảng 1,05 triệu tấn đường công nghiệp. Mia là loại cây có năng suất quang hợp khá cao, trong thời kỳ sinh trưởng diện tích lá lớn gấp 6 — 7 lần diện tích đất. Thời gian hoạt động của bộ rễ kéo dài và ổn định hàng năm. Do đó mía được coi là cây cao sản và nếu được chăm sóc tốt có thể lên tới 150 tấn năng suất sinh vật ha/năm (khoảng 94 tấn mía cây, 76 tấn lá, 28 tấn búp ngọn, 12 tấn rễ).3 Đặc tính sinh học của cây mía Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây mía tuỳ thuộc vào giống.
Thông thường, nó được chia làm 5 thời kỳ chủ yếu: thời kỳ nảy mầm, thời kỳ cây con, thời kỳ đẻ nhánh, thời kỳ vươn cao (vươn lóng), thời kỳ chín công nghiệp và thoi kỳ trổ cờ.1 Thời kỳ nảy mầm Thời kỳ nay mam dài hay ngắn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: đặc tính giống, chất lượng hom giống, độ ẩm đất, nhiệt độ và kỹ thuật trông. Đặc tính giống: có giống nảy mầm nhanh, mạnh, có giống nảy mam chậm yếu. Chất lượng hom giống: chúng ta lấy giống bánh tẻ, đảm bảo chất lượng. Độ ẩm: nhiệt độ thích hợp cho nay mầm tối ưu là 70%-80% độ ẩm tối đa.
Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho nay mầm sau 10-15 ngày là 25°C — 34C. Kỹ thật trồng: bao gồm làm rạch, đặt hom, phủ đất, lèn đất, tưới.2 Thời kỳ cây con Thời kỳ cây con được xác định từ khi cây mía có lá thứ nhất đến khi có 75% số cây trong ruộng mía có đủ 5 lá thật.3 Thời kỳ dé nhánh Thoi kỳ này bắt đầu khi hình thành cây con 15-20 ngày. Lúc này cây đã có 6-7 lá thật. Các điểm mầm ở gốc nằm dưới mặt đất đã nay thành nhánh.
Từ hom giống cây mẹ mọc lên. Sau đó, từ gốc cây mẹ nảy chổi nhánh thành cây con mới. Nhiệt độ thích hợp 25°C-30°C, độ ẩm thích hợp 65% -77%, ánh sáng 10g1ờ/ngày. Thời kỳ vươn cao —-vươn lóng.
Thời kỳ này thường kéo dài từ 3 đến 5 tháng trong đó 4 tháng vươn mạnh. Trong thời kỳ này ngọn cây phát triển nhanh, số lá tăng lên liên tuc. Thân cây vươn cao nhanh, lóng vươn dài, đường kính thân cây tăng nhanh, bộ rễ phát triển mạnh. Thời kỳ này tuỳ thuộc vào đặc tính giống, kỹ thuật canh tác, vụ trồng.5 Thời kỳ chín công nghiệp.
Là thời kỳ tiếp sau của thời kỳ vươn cao. Vào thời kỳ này cây mía sẽ phát triển chậm lại, đồng thời tích lũy đường nhanh. Mía chín công nhgiệp là khi hàm lượng đường trong thân cây mía tăng lên cao, đạt yêu cầu cho vệc chế biến. Tốc độ chín công nghiệp chịu ảnh hưởng bởi: giống mía, kỹ thuật canh tác, nhiệt độ thích hợp từ 14°C — 25°C.6 Thời kỳ trổ cờ.
Vào cuối thời kỳ chín sinh học cây mía thường trổ cờ. Mức độ cũng như khả năng trổ cờ của cây mía phụ thuộc vào hai yếu tố: đặc tính giống và thời gian chiếu sáng. Trong thời kỳ này tỷ lệ sơ tăng nhanh, hàm lượng đường giảm.4 Một số khái niệm về kinh tế.1 Khái niệm về giá thành sản phẩm Giá thành = TFC/sp + TVC/sp Trong đó : TFC/sp chi phí cố định trên một sản phẩm. TVC/sp chi phí biến đổi trên một sản phẩm.
Giá thành đơn vị sản phẩm hay dịch vụ là tổng hợp tất cả các chi phi sản xuất biểu hiện dưới dạng tiền tệ theo giá thị trường đối với từng đơn vị Rr x sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu tổng hợp, thuộc nhóm chỉ tiêu chất lượng, phan ánh trực tiếp hiệu quả kinh doanh. Nếu giá thành nhỏ hơn giá bán thì doanh nghiệp kinh doanh có lãi, nếu giá thành bằng giá bán thì doanh nghiệp kinh doanh hòa vốn .2 Khái niệm về hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích kinh tế nhằm vào việc giải thích các mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng khác nhau của một hệ thống kinh tế.
Mục đích của nó là cung cấp một số các nguyên tắc kinh tế hướng dẫn cho sự nhận thức các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai. Các nguyên tắc trên cần được tổng quát thành các đặc trưng. Có thể chia ra hai loại là tổng quát hoá có tính chất phân tích và tổng quát hoá theo kinh nghiệm. Tổng quát hoá phân tích là sự kết luận trên cơ sở lôgic của các giả định nào đó.
Còn tổng quát hoá theo lối kinh nghiệm đơn thuần chỉ là sự phát biểu về xu hướng dựa trên một số lớn các số liệu có thể khảo sát.3 Khái niệm về tiêu thu. Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá, san xuất tiêu thụ thì mới có tái san xuất mở rộng. Như vậy, qua tiêu thụ sản phẩm đó chính là chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ.4 Khái niệm về nguyên liệu. Nguyên liệu sản xuất gồm hai loại là nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ.
Là yếu tố đầu vào trong sản xuất, là yếu tố cấu tạo trực tiếp nên sản phẩm. Với ngành sản xuất chế biến mía đường thì nguyên liệu là mía cây. Nguyên liệu miá có tính tươi sống nhanh giảm chất lượng, đồng thời đặc thù của ngành là sử dụng một lượng nguyên liệu rất lớn cho san xuất vì vậy sự sống còn của công ty gắn với vùng nguyên liệu.5 Khái niệm sản phẩm. Sản phẩm là kết quả cuối cùng trong sản xuất mà nhà sản xuất chủ định sản xuất ra.
Sản phẩm của ngành chế biến đường là đường, mà cụ thể ở đây sản phẩm của công ty mía đường Tuy Hoà là đường RS. Đường RS là đường cát trắng chưa tinh luyện.6 Chữ đường (CCS): là % hàm lượng đường saccaroze mà ta thu hồi được trong quá trình chế biến. + pie (1-2 2 100 2 100 Trong đó: F: tỷ lệ độ sơ của cây mía. Độ Pol là % hàm lượng đường Saccaroze có trong nước mía.
Độ Brix là % các chất hoà tan trong nước mía. Trong chế biến mía tỷ lệ chữ đường ( CCS ) thể hiện hàm lượng đường có trong nước mía. Tỷ lệ CCS càng cao thì càng chiết suất được nhiều đường. Tỷ lệ CCS phụ thuộc vào giống mía và thời điểm thu hoạch có đúng độ chín của mía hay không.7 Tỷ lệ tạp chất Trọng lượng tạpchất Tỷ lệ tạp chất (%) = * 100% Trọng lượng mía Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ tạp chất trong mía như: đất, lá, mía, một số tạp chất khác.
Tỷ lệ tạp chất càng nhỏ thì chất lượng nguyên liệu đưa vào san xuất càng cao.5 Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện để tài tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: i, Thu thập các số liệu thống kê từ sổ sách, chứng từ, các báo cáo ở phòng tài chính kế toán, phòng kế hoạch kinh doanh, phòng nguyên liệu vận tải của công ty.