CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1.1 Tổng quan về rủi ro và rủi ro trong kiểm toán 1.1 Định nghĩa về rủi ro và rủi ro trong kiểm toán Theo từ điển tiếng Việt, rủi ro là những yếu tố không chắc chắn tồn tại trong công việc mà chúng ta tiến hành. Hay nói cách khác, rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một việc thực hiện nhiệm vụ hay công việc. Dù muốn hay không, hầu hết những công việc, nghề nghiệp đều chứa đựng rủi ro. Ví dụ: rủi ro phát sinh từ việc bê một tập sách nặng là bị đau lưng.
Rủi ro trong kiểm toán là những rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví dụ kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ về một báo cáo tài chính mà không biết rằng các báo cáo này có những sai lệch trọng yếu.2 Phân loại rủi ro trong kiểm toán Có nhiều cách để tiếp cận và phân loại rủi ro. Trong lĩnh vực kiểm toán, rủi ro thường được xem xét dưới hai hình thức chủ yếu là rủi ro kinh doanh và rủi ro kiểm toán.1 Rủi ro kinh doanh Là rủi ro xảy ra các thiệt hại về tài chính và/hoặc danh tiếng cho công ty kiểm toán do việc kinh doanh đem đến. Từ định nghĩa này có thể chia rủi ro kinh doanh thành hai loại: + Rủi ro chấp nhận khách hàng: là rủi ro xảy ra các thiệt hại về tài chính, nguy hại về danh tiếng đến công ty kiểm toán do việc chấp nhận khách hàng.
Các thiệt hại này thường đến sau những vụ kiện công ty kiểm toán từ phía khách hàng do công ty kiểm toán vi phạm hợp đồng kiểm toán, hoặc từ bên thứ ba để đòi bồi thường thiệt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hại do sự bất cẩn của kiểm toán viên trong việc điều hành và thực hiện cuộc kiểm toán. Ngoài ra, việc đánh giá sai khả năng cung cấp dịch vụ kiểm toán của bản thân công ty kiểm toán cũng có thể gây ra thiệt hại về mặt tài chính khi đi đến quyết định chấp nhận khách hàng. Rủi ro chấp nhận khách hàng thường do khách hàng thiếu liêm chính, khách hàng có các hành vi gian lận, không tuân thủ. Nguyên nhân gây ra loại rủi ro này chủ yếu do công ty kiểm toán đánh giá không chính xác về khách hàng khi quyết định chấp nhận thiết lập hay duy trì mối quan hệ với khách hàng.
Một nguyên nhân khác đó là do công ty kiểm toán đánh giá không chính xác về khả năng thực hiện dịch vụ kiểm toán của mình dẫn đến phá vỡ hợp đồng kiểm toán. + Rủi ro không chấp nhận khách hàng: là rủi ro đánh giá sai về khách hàng dẫn đến việc từ chối ký hợp đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán và mất đi cơ hội kinh doanh. Đây là trường hợp trái ngược với loại rủi ro ở trên. Trong điều kiện thị trường kiểm toán chịu sự cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, việc mất đi một khách hàng là hết sức đáng tiếc vì có thể ảnh hưởng đến mục tiêu đạt lợi nhuận mong muốn của công ty kiểm toán.
Trong phạm vi của đề tài, ngoài khái niệm rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán như đã nêu trên, đề tài còn sử dụng khái niệm rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp được kiểm toán. Rủi ro kinh doanh của một doanh nghiệp là “Rủi ro mà mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp không đạt được do các nhân tố, các sức ép bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, xét cho cùng, đó là các rủi ro liên quan đến khả năng tạo ra lợi nhuận và khả năng sống còn của doanh nghiệp” 1.2 Rủi ro kiểm toán 1.1 Định nghĩa 1 Bell, T. (1997), Auditing Organizations Through a Strategic- Systems Lens: The KPMG Business Measurement Process, KPMG, New York. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Theo VSA 400/ISA 400: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu”.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán gắn liền với các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính.
Các nguyên nhân dẫn đến báo cáo tài chính bị trình bày sai một cách trọng yếu bao gồm: - Gian lận Theo VSA 240, đoạn 4: “Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. - Sai sót Theo VSA 240, đoạn 5: “ Sai sót là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. - Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định Theo VSA 250, đoạn 7: “Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định là những hành vi thực hiện sai, bỏ sót, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời hoặc không thực hiện pháp luật và các quy định dù là vô tình hay cố ý của đơn vị, … không đề cập đến những hành vi không tuân thủ do tập thể hoặc cá nhân của đơn vị gây ra nhưng không liên quan đến báo cáo tài chính của đơn vị”. - Sự vi phạm giả thiết liên tục hoạt động Sự vi phạm giả thiết liên tục hoạt động là khả năng giả thiết liên tục hoạt động không còn đứng vững trong khoảng thời gian một năm kể từ ngày kết thúc niên độ.
Theo VAS 01, đoạn 4: Giả thiết liên tục hoạt động được hiểu là “doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình”. Khi giả thiết liên tục TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hoạt động bị phá vỡ, căn cứ để lập báo cáo tài chính cũng thay đổi. Do đó, nếu báo cáo tài chính vẫn được lập trên căn cứ cũ thì các sai sót nghiêm trọng sẽ xuất hiện, bao gồm những sai sót trong việc lựa chọn giữa giá gốc và giá trị có thể thực hiện được để ghi nhận tài sản, công nợ và việc phân loại tài sản, công nợ. Việc hiểu rõ các nhân tố gây ra sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính là vô cùng cần thiết trong công tác đánh giá rủi ro.
Điều này giúp kiểm toán viên dễ dàng theo dõi các dấu hiệu, sự kiện, điều kiện làm gia tăng rủi ro.3 Các bộ phận của rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Rủi ro tiềm tàng - Khái niệm Theo VSA 400, đoạn 4: “Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ”. - Đặc điểm Rủi ro tiềm tàng xuất phát từ bản chất hoạt động kinh doanh của khách hàng, hoặc từ bản chất của các số dư và các loại nghiệp vụ. Do đó, rủi ro tiềm tàng tồn tại một cách khách quan và độc lập với những nỗ lực của kiểm toán viên trong việc làm giảm rủi ro.
Kiểm toán viên chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện và đánh giá hợp lý rủi ro tiềm tàng để có những điều chỉnh thích hợp đến công việc kiểm toán. - Các nhân tố ảnh hưởng + Ở mức độ báo cáo tài chính • Tính liêm chính, kinh nghiệm và kiến thức của Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 • Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ (nếu có) và sự thay đổi của các nhân viên này. • Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban Giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày báo cáo tài chính không trung thực.
• Bản chất ngành nghề, đặc điểm hoạt động của đơn vị. • Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị: các biến động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị trường bán và sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị. • Quy mô của tổng thể báo cáo tài chính. + Ở mức độ từng cơ sở dẫn liệu • Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: báo cáo tài chính có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước, báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán.
• Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế, như: số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu tài sản cố định tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá tài sản cố định, … • Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài, … • Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, … • Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ. • Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Rủi ro kiểm soát - Khái niệm Theo VSA 400, đoạn 5: “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”.
- Đặc điểm Rủi ro kiểm soát thường không hoàn toàn được loại trừ do sự hạn chế vốn có của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.