CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN 1. Khái niệm dự án. Dự án Dự án: Có nhiều cách định nghĩa dự án. Tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó: Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thục hiện với phương pháp và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Như vậy, dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; dự án cũng không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới. Theo ngân hàng Thế giới (World bank): “dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí có liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định”. Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra những sản phẩm /dịch vụ duy nhất. Nỗ lục có thời hạn có nghĩa là mọi dự án đầu tư đều có điểm bất đầu và kết thúc xác định.
Một số đặc trưng cơ bản của dự án như sau: - Mỗi dự án phải có một hoặc một số mục tiêu rõ ràng. Thông thường người ta cố gắng lượng hóa mục tiêu thành ra các chỉ tiêu cụ thể. Mỗi dự án là một quá trình tạo ra một kết quả cụ thể. Nếu chỉ có kết quả cuối cùng mà kết quả đó không phải là kết quả của một tiến trình thì kết quả đó không được gọi là dự án.
- Mỗi dự án đều có một thời hạn nhất định (thường>3 năm), nghĩa là phải có thời điểm bắt đầu và kết thúc. Dự án được xem là một chuỗi các hoạt động nhất thời. Tổ chức của dự án mang tính chất tạm thời, được tạo dựng lên trong một thời hạn nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, sau đó tổ chức này sẽ giải tán hay thay đổi cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu mới. Nghĩa là 4 mỗi dự án đều có một chu kỳ hoạt động.
Chu kỳ hoạt động cua dự án gồm nhiều giai đoạn khác nhau. - Mỗi dự án đều sử dụng nguồn lực và nguồn lực này bị hạn chế. Nguồn lực gồm: nhân lực, nguyên liệu, ngân sách. - Mỗi dự án đều mang tính độc đáo (Unique) đối với mục tiêu và phương thức thực hiện dự án.
Không có sự lặp lại hoàn toàn của các dự án. - Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy, đầu tư Xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng.
Đầu tư Xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. - Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động Xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng 1.
Khái niệm Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp những đề xuất có liên quan về việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, quy mô 5 công trình mà nội dung dự án có thể thay đổi, tuy nhiên thành phần chính của một dự án luôn bao gồm 2 phần: Phần thuyết minh: thuyết minh về giải pháp thực hiện, sự cần thiết phải đầu tư, các kế hoạch, phân tích về vốn và thời gian thực hiện, các hạng mục thành phần của dự án. Phần thiết kế cơ sở: thể hiện các yêu cầu, thông số kỹ thuật, các bản vẽ định hình, định dạng các hạng mục công việc trong dự án và đương nhiên luôn kèm theo bản phân tích, thuyết minh các chỉ tiêu, thông số kỹ thuật, khái toán giá trị thực hiện dự án. Thông thường đối tượng dự án đầu tư xây dựng là một công trình có xây dựng và công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với đất được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động.
Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục công trình hay nhiều hạng mục công trình, nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh có tính đến việc hợp tác sản xuất để làm ra sản phẩm hay dịch vụ cuối cùng nêu trong dự án đầu tư xây dựng. Khái niệm về tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng Tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng là một trong năm nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, đó là quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và môi trường xây dựng. Vậy theo tôi, tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng được tính từ khi có quyết định hoặc chủ trương đầu tư thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và được đưa vào sử dụng. Và thực tế hiện nay, tiến độ thực hiện dự án là một trong các tiêu chí hàng đầu để xem xét, quyết định đầu tư dự án.
Tiến độ ảnh hưởng và quyết định đến rất nhiều yếu tố khác: năng suất, nguồn vốn đầu tư, các chính sách xã hội… 6 1. Khái niệm Phương pháp quản lý dự án là một phương pháp quản lý tiên tiến, được áp dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự Mỹ, đến nay nó nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Có hai nhân tố thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp quản lý dự án. Đó là, nhu cầu ngày càng tăng về những hàng hoá đòi hỏi sản xuất phức tạp, công nghệ hiện đại, trong khi khách hàng thì ngày càng “khó tính” và hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật ngày càng tăng lên.
Quản lý dự án là việc áp dụng những hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào hoạt động dự ná nhằm đạt được những yêu cầu và mong muốn từ dự án. Quản lý dự là quá trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đạt được những mục tiêu về thời gian, chi phí, kỹ thuật và chất lượng. Chức năng của quản lý dự án ¾ Chức năng kế hoạch: Đó là việc xác định rõ mục tiêu của dự án, thực hiện phân tích công việc, xác định mối quan hệ logic giữa công việc, xây dựng một lịch trình thời gian và lập kế hoạch nguồn lực để thực hiện dự án. ¾ Chức năng tổ chức: Để quản lý dự án cần thiết lập một cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với từng loại dự án, xây dựng các văn bản hướng dẫn, thiết lập các chuẩn mực về quyền lực và trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm quản lý dự án.
¾ Chức năng lãnh đạo: Theo chức năng này, cần thiết lập giới hạn quền lực đối với việc quyết định về phân bổ nguồn lực, thiết lập những chuẩn mực về kỹ thuật, thời gian, chi phí dành cho dự án, chuẩn bị kế hoạch đánh giá, thiết lập một hệ thống thông tin quản lý. - Liên kết tất cả các hoạt động cần thực hiện của dự án 7 - Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ giữa nhóm quản lý với khách hàng của dự án. - Phát hiện sớm và giải quyết nhanh chóng những khó khăn vướng mắc nảy sinh. Tạo điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa những người liên quan đến dự án để giải quyết những bất đồng.
- Rút ngắn thời gian triển khai. Tăng cường sự điều phối và hợp tác giữa các bộ phận quản lý dự án - Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao 1. Nội dung quản lý dự án Quá trình thực hiện quản lý dự án đầu tư Như đã trình bày, hầu hết các dự án được hình thành là do nhu cầu của thị trường, của người tiêu dùng. Một nhu cầu có thể do nhu cầu của khách hàng, phòng thị trường hoặc bất kỳ thành viên nào của tổ chức.
Khi dự án được khẳng định là nhu cầu có thật, thì các mục đích có thể được xác định và các bước đầu tiên sẽ được tiến hành theo hướng tạo ra một ban để quản lý dự án. Hầu hết các dự án có nhiều mục đích bao hàm các phương diện, chẳng như các yêu cầu về kỹ thuật, về vận hành, ngày chuyển hàng. và chi phí. Tất cả nên được sắp xếp theo trật tự theo tầm quan trọng của chúng.
Dựa trên sự sắp xếp này một loạt các biện pháp thực hiện cho từng mục đích được hình thành và các vấn đề về công nghệ (hoặc thiết kế ban đầu) cũng được phát triển song song với kế hoạch triển khai thực hiện và kế hoạch giữa ngân sách cho dự án. Bước tiếp theo là để thống nhất thiết kế, ngân sách và kế hoạch dự án để chỉ ra những gì sẽ được thực hiện và ai thực hiện, chi phí là bao nhiêu và khi nào phải chi?. Khi kế hoạch được triển khai thực hiện thì các kết quả thực hiện cần được đánh giá và ghi lại mọi sự điều chỉnh nhẵm giữ cho dự án tiến hành theo đúng tiến độ và kế hoạch được lập ra khi có sự sai lệch xuất hiện. Khi dự 8 án kết thúc, các kết quả của dự án được đánh giá dựa trên các mục đích và các biện pháp tiến hành đã xác định từ trước.
Nội dung của quản lý dự án Quản lý phạm vi: Là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích, mục tiêu của dự án, xác định công việc nào phụ thuộc về dự án và cần phải thực hiện, công việc nào ngoài phạm vi của dự án.