Chương 1: Những vẫn đề chung về CPH DNNN Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về CPH DNNN ở tỉnh Hải Dương Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt CPH DNNN ở tỉnh Hải Dương 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Sự hình thành, phát triển và một số nét cơ bản của công ty cổ phần 1. Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần Công ty cổ phần (Cái đích của CPH) là DN mà trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần; chủ sở hữu các cổ phần gọi là cổ đông(1) ).
CTCP được hình thành do trình độ xã hội hoá sản xuất phát triển. (1 Vận động và phát triển là quy luật tất yếu khách quan của mọi sự vật. Tuy nhiên với mỗi hình thái tổ chức quản lý nhất định, sự phát triển bị giới hạn bởi cơ cấu nội tại của mô hình tổ chức quản lý đó, khi mô hình tổ chức quản lý tỏ ra quá chật hẹp, cản trở các nhân tố nội tại thì tất yếu nó sẽ bị phá vỡ, bị thay thế bằng một mô hình tổ chức quản lý mới tiên tiến hơn, tạo điều kiện cho sự vật phát triển. Trong nền KTTT và nhu cầu của xã hội (XH) phải thực hiện nhiều dự án sản xuất- kinh doanh (như đường sắt, hàng không, hàng hải, viễn thông, khai khoáng,.) và chế ngự thiên nhiên, chế ngự đối thủ cạnh tranh, mở rộng quy mô sản xuất, chiếm lĩnh thị trường và tăng thị phần,.
đòi hỏi một khối lượng vốn khổng lồ mà từng cá nhân không thể đáp ứng nổi. Nó đòi hỏi phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau trong XH, thậm chí từ nhiều quốc gia. Nói cách khác CTCP ra đời do trình độ xã hội hoá (XHH) nền sản xuất ở mức cao, đòi hỏi phải XHH về vốn. Khi trình độ XHH sản xuất ở quy mô nhỏ thì các tư bản cá biệt hoạt động riêng rẽ, ít có mối liên hệ với nhau, theo nguyên tắc người sở hữu vốn cũng đồng thời là người sử dụng vốn.
Vốn của ai người đó sử dụng. Hiện tượng người này sử dụng vốn của người khác tuy có nhưng ít ỏi và rời rạc, chưa trở thành hiện tượng phổ biến. Bởi vì, với quy mô sản xuất nhỏ, các chủ thể kinh doanh phân tán, riêng rẽ và (1) Luật Doanh nghiệp 1999, NXB Thống kê Hà Nội,2000. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rời rạc, nhu cầu vốn không lớn, do vậy chưa có mối liên hệ nội tại tất yếu.
Khi lực lượng sản xuất phát triển, trình độ phân công lao động XH ngày một cao, mối liên hệ giữa các đồng vốn cá biệt tăng lên theo hai xu hướng của sự vận động: Nó tác động làm các đồng vốn tư nhân xô đẩy lẫn nhau, loại trừ nhau, đấu tranh giành vị trí có lợi; Mặt khác các đồng vốn tư nhân liên kết với nhau, thu hút nhau, xâm nhập lẫn nhau để thích ứng với những quy mô sản xuất lớn, thiết bị hiện đại. Liên kết sản xuất tư nhân lại thành một khối, làm loại hình kinh tế mới là CTCP xuất hiện. Theo Mác thì CTCP là điểm xuất phát để tổ chức một cách rộng rãi hơn nữa những động lực vật chất của lao động, nghĩa là để biến dần những quá trình sản xuất rời rạc, thủ cựu thành những quá trình sản xuất phối hợp theo quy mô XH và được xếp đặt một cách khoa học. Ðó cũng chính là ưu việt của CTCP mà các loại hình kinh tế khác không có được(2).
CTCP có trình độ XHH cao hơn các hình thức tổ chức của các loại hình công ty khác; Thích ứng hơn với nền sản xuất lớn văn minh tiến bộ không chỉ ở chỗ biến đổi sở hữu tư nhân về vốn thành sở hữu tập thể hỗn hợp thích ứng với quy mô sản xuất lớn mà còn là một kiểu tổ chức sản xuất- kinh doanh (SX-KD) khiến người có vốn là nhà tư bản sở hữu thành nhà tư bản đầu tư trực tiếp thông qua mua cổ phiếu. Vào đầu thế kỷ thứ 17, nhân loại đã biết đến kiểu hợp vốn CTCP này nhưng lúc đó nó rất thưa thớt, nhỏ nhoi, chưa phải là kiểu hợp vốn phổ biến. Mác đã dự đoán loại hình CTCP tuỳ theo trình độ XHH sản xuất mà nó sẽ trở thành phổ biến với những CTCP mẹ, CTCP lũy thừa hai, lũy thừa ba, những CTCP khổng lồ thống trị toàn XH(3). Ðặc biệt, đối với chủ nghĩa tư bản (CNTB) thì kiểu CTCP lại càng thích hợp, bởi vì nhờ nó mà người ta huy động được nguồn tư bản rộng rãi nhất, nhanh và tiện lợi nhất, tạo ra lợi thế trong cạnh tranh trên thương trường; phân tán rủi ro cho nhiều người, nhiều chủ để tránh bị phá sản khi gặp rủi ro; CTCP có sức mạnh nhân lên gấp bội nhờ chế độ cổ phần tham dự.
Khi trình độ XHH đòi hỏi có sự tách rời cao độ giữa quyền sở hữu và quyền sử (2) (3) , Các Mác, Tư bản quyển 3 tập I, NXB Sự thật, Hà Nội,1976 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng vốn thì cũng đồng thời làm xuất hiện một lớp người quản lý giỏi, biết bắt đồng vốn sinh lời, biết mang lại cổ tức cho cổ đông,. Ðó là tầng lớp Giám đốc kinh doanh làm thuê, biến nhà tư bản thật sự hoạt động thành một người chỉ giản đơn điều khiển và quản lý tư bản của người khác và biến những người sở hữu tư bản thành người sở hữu thuần túy(4). Trình độ XHH sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) làm nảy sinh CTCP, nhưng CTCP là sản phẩm của XHH mang tính hai mặt: Một mặt, nó mang tính tiên tiến, văn minh tiến bộ; mặt khác nó khắc phục được các giới hạn của kinh tế tư nhân hoặc kinh tế Nhà nước, mở đường cho kinh tế tập thể phát triển. Tư bản tự nó vốn dựa trên phương thức sản xuất XH và đòi hỏi phải có sự tập trung XH về tư liệu sản xuất và sức lao động.
Ở đâu tư bản trực tiếp mang hình thái tư bản XH (tư bản của những cá nhân trực tiếp liên hiệp lại với nhau) đối lập với tư bản tư nhân thì những xí nghiệp của nó cũng biểu hiện ra là những xí nghiệp XH đối lập với các xí nghiệp tư nhân. Ðó là sự thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất TBCN. Do vậy chính CTCP là sự phủ định chế độ TBCN(5). Mác đã khẳng định trong bộ Tư bản: 1) Khi quy mô sản xuất được mở rộng một cách to lớn và xuất hiện những xí nghiệp mà với những tư bản riêng rẽ người ta không thể nào thiết lập được, đồng thời có những xí nghiệp trước kia là của Chính phủ nay được tổ chức thành CTCP; 2) CTCP là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng của quá trình tái sản xuất hiện còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản giản đơn thành những chức năng của những người sản xuất liên hiệp tức là chức năng XH; 3) CTCP sẽ phát triển ở bậc lũy thừa hai, lũy thừa ba, với tốc độ mỗi ngày một lớn mà ngày nay người ta có thể đẩy nhanh sản xuất ở trong tất cả các lĩnh vực đại công nghiệp.
Tóm lại, ba vấn đề nổi bật cần nhận thức rõ CTCP là: Thứ nhất: CTCP là sản phẩm của trình độ XHH sản xuất, đặc biệt là sự XHH về vốn theo nghĩa rộng nhất của từ đó.Mác, Tư bản quyển 3 tập II, NXB Sự thật, Hà Nội,1978. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai: CTCP là loại hình kinh tế khá phức tạp và rất rộng: có thể theo kiểu hùn vốn, sở hữu hỗn hợp giữa nhà tư bản tư nhân với Nhà nước làm thành "Tư bản nhà nước"; có thể đó là sự góp vốn cổ phần của những người lao động làm thành "xí nghiệp hợp tác công nhân". Thứ ba: Nhận thức rõ tính ưu việt, tính phổ biến của CTCP để phát huy sức mạnh của nó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Mặt khác, phải thấy tính đặc thù về phương thức sản xuất, về tính chính trị của Nhà nước để vận dụng loại hình này trong CPH DNNN ở Việt Nam, tránh được, bớt đi tính tư bản và tăng thêm tính định hướng XHCN trong CTCP.
CTCP không chỉ được hình thành từ sự XHH lực lượng sản xuất mà còn được hình thành từ sự phát triển của các tổ chức và các loại hình công ty. Trong kinh doanh có hai quy luật tác động trực tiếp làm xuất hiện CTCP, đó là quy luật thiếu vốn trong kinh doanh và muốn kinh doanh phải có tổ chức kinh doanh. Về quy luật thứ nhất, sản xuất càng phát triển, quy mô càng được mở rộng thì tình trạng thiếu vốn càng lớn. Nó có tính phổ biến.
Nhân loại đã giải quyết sự thiếu vốn đó bằng nhiều kiểu tổ chức khác nhau, trong đó kiểu huy động vốn, sở hữu vốn và sử dụng vốn chiếm ưu thế là CTCP. Do đó, CTCP ra đời từ chính yêu cầu đáp ứng về vốn. Có nhiều kiểu huy động vốn như thông qua quan hệ tín dụng của ngân hàng. Ở đây, vốn tư nhân có thể được XHH rất cao, bởi vì xuất hiện một hệ thống tổ chức đồ sộ ngân hàng từ quốc gia đến quốc tế để thu hút vốn, cung ứng vốn nhanh nhất, so với kiểu huy động vốn bằng cách hùn vốn của CTCP thì trình độ XHH về vốn ở CTCP cao hơn nhiều.
Cho dù ngân hàng hiện đại đến đâu thì cũng là "tài chính trung gian", người có vốn chỉ đầu tư gián tiếp qua ngân hàng không chịu rủi ro, không chấp nhận mạo hiểm,. Do đó, đồng vốn chỉ đưa lại một tỷ lệ lãi suất luôn phải nhỏ hơn tỷ lệ cổ tức mà thôi. Riêng Việt Nam có trường hợp ngược lại, đó là một biến dạng đặc biệt. Như vậy, theo quy luật thiếu vốn trong kinh doanh, các nền kinh tế đã có kiểu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huy động vốn mới mang tính trực tiếp, tính kinh doanh, tính chấp nhận và phân bổ rủi ro, mạo hiểm chứ không phải tính thực lợi hoàn toàn như tư bản ngân hàng trong CTCP.
Quy luật thứ hai là muốn kinh doanh tất yếu phải có tổ chức kinh doanh, muốn kinh doanh có lợi nhuận cao thì phải tìm kiếm kiểu tổ chức kinh doanh có hiệu quả.