phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng phát triển bền vững. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng phát triển bền vững. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Sông Lô theo hƣớng phát triển bền vững. Chƣơng 4: Những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Sông Lô theo hƣớng phát triển bền vững trong thời gian tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việc phát triển nền kinh tế có hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia. Muốn đạt đƣợc mục tiêu trên một trong những yếu tố quan trọng đòi hỏi phải có một CCKT hợp lý xét trên góc độ các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế. Các yếu tố hợp thành CCKT phải đƣợc thể hiện cả về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng và đƣợc xác định trong những giai đoạn nhất định, phù hợp với những đặc điểm tự nhiên, KT-XH cụ thể của mỗi quốc gia (vùng, hoặc địa phƣơng) qua từng thời kỳ.
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến, mà luôn vận động chuyển dịch, thích hợp với những biến động của điều kiện tự nhiên, KT-XH. Do đó sự duy trì quá lâu hoặc thay đổi quá nhanh chóng của CCKT mà không tính đến sự phù hợp với những biến đổi của tự nhiên, KT-XH đều có thể ảnh hƣởng đến hiệu quả của nền kinh tế. Vì vậy việc duy trì hay thay đổi CCKT không phải là mục tiêu, mà chỉ là phƣơng tiện của việc tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế trong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển đổi, sự vận động và phát triển của LLSX xã hội, các mục tiêu KT-XH sẽ đạt đƣợc nhƣ thế nào.
Nói cách khác CCKT biến đổi chính là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội, CCKT phản ánh mối quan hệ LLSX và QHSX của nền kinh tế. Từ sự phân tích trên có thể hiểu: CCKT là tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu (hay cấu trúc) của nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội. Các bộ phận đó gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KT-XH nhất định nhằm đạt hiệu quả KT-XH cao. Khái niệm CCKT nhƣ nêu trên là khoa học tƣơng đối toàn diện, đầy đủ các bộ phận cấu thành, các mối quan hệ khăng khít giữa các bộ phận cấu thành.
Nhƣ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 vậy CCKT vừa mang tính khách quan, vừa mang tính lịch sử xã hội, đồng thời luôn vận động và phát triển không ngừng, gắn với sự phân công lao động, hợp tác kinh tế trong nƣớc và quốc tế. Ta có thể hiểu trực diện hơn, CCKT còn thể hiện mối quan hệ và tỷ lệ giữa các ngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP), mối quan hệ giữa các vùng kinh tế, giữa các thành phần kinh tế. Từ đó có thể hiểu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng tương đối của các ngành, các bộ phận của mỗi ngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP), sự thay đổi vị trí, vai trò của các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Chuyển dịch CCKT là việc thay đổi cấu trúc nội tại và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế có hƣớng đến mục tiêu đã xác định.
Khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn 1. Cơ cấu kinh tế nông thôn Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trƣng chung của nền kinh tế về LLSX và QHSX, về cơ chế kinh tế… vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật; KTNT có thể bao gồm nhiều ngành kinh tế nhƣ: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ … trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu.
Xét về mặt KT- XH, KTNT cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: KTNN, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân … xét về mặt không gian và lãnh thổ, KTNT bao gồm các vùng nhƣ: vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên cánh cây màu, vùng trồng cây ăn quả … Nói cách khác: KTNT là một phức hợp những nhân tố cấu thành LLSX và QHSX trong các ngành nông - lâm - ngƣ nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến phục vụ cho nông nghiệp, các ngành thƣơng nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn. Tất cả các ngành đó đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng, lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Từ đó có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế nông thôn là quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn nông thôn có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển trong điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội, trong một thời gian nhất định ở nông thôn. Cơ cấu kinh tế đó đƣợc thể hiện cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng.
Cơ cấu KTNT có vai trò to lớn, ảnh hƣởng chi phối đến đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn. Nhƣ vậy, giữa các bộ phận của CCKT nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời theo những tỷ lệ về lƣợng cũng nhƣ về chất. Cơ cấu KTNT tồn tại khách quan nhƣng không bất biến, mà luôn biến đổi thích ứng với sự phát triển của LLSX và phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ. Việc xác lập CCKT nông thôn chính là giải quyết mối quan hệ tƣơng tác giữa các yếu tố của LLSX và QHSX, giữa tự nhiên với con ngƣời trong khu vực nông thôn theo thời gian và những điều kiện KT-XH cụ thể.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển do yêu cầu phát triển sự vận động các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định. Đó là sự thay đổi số lƣợng các ngành (nông, lâm, ngƣ nghiệp) hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trƣởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều. Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trƣờng phát triển mới. Đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lƣợng và chất trong nội bộ cơ cấu.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải dựa trên cơ sở yêu câu phát triển mới có tính đến cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chƣa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tế mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu kinh tế cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Nhƣ vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu (ngành, vùng, thành phần) nhằm hƣớng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển. Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn thể hiện ở việc đa dạng hoá sản xuất, phát triển nông nghiệp toàn diện để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng lên của xã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 hội và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp nhằm rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp và nông thôn, tăng năng suất lao động nông nghiệp và tăng thu nhập của hộ nông dân. Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn về thực chất là chuyển đổi của cả nền kinh tế nông thôn và phụ thuộc vào việc chuyển đổi cơ cấu của cả nền kinh tế.
Vì vậy khi phân tích chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp không thể tách rời khỏi cơ cấu kinh tế nông thôn. Theo nghiên cứu thống kê của nhiều nƣớc trên thế giới, giữa tăng trƣởng của khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp có một tƣơng quan rất chặt chẽ: 1% tăng trƣởng nông nghiệp tƣơng ứng với 4% tăng trƣởng phi nông nghiệp. Bản chất của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn là sự thay đổi về chất của nền kinh tế để đảm bảo cho phát triển bền vững. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, nó tồn tại và ngày càng phát triển gắn liền với những quan hệ kinh tế nhất định.
Những quan hệ kinh tế chứa đựng trong kinh tế nông thôn đƣợc gọi là cơ cấu kinh tế nông thôn. Xét trên tổng thể cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm : Cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế. Kinh tế nông thôn nói chung và từng loại cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng là sản phẩm của phân công lao động xã hội bao gồm: * Cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành trong kinh tế nông thôn thể hiện các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong nông thôn: Nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Trong từng ngành đó lại có các phân ngành.
Cơ sở để phân chia các ngành kinh tế nông thôn là các đặc điểm tự nhiên, kinh tế kỹ thuật.