CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học 1. Khái niệm về dồn điền đổi thửa * Khái niệm về dồn điền đổi thửa: Dồn điền đổi thửa là việc tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành các mảnh ruộng nhỏ. Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa: Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn; Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định.
Theo cách này, các địa phương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau. Từ những hạn chế của vấn đề manh mún ruộng đất cho thấy chủ trương và việc tiến hành dồn điền đổi thửa là rất cần thiết cho sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, 2011). * Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa Hơn nửa thế kỷ qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ hai trên thế giới và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nâng cao đời sống cho nông dân, ổn định nông thôn và xây dựng đất nước.
Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp gắn liền với chính sách ruộng đất. Mỗi chính sách ruộng đất có tác dụng trong thời gian nhất định, phù hợp với phát triển nông nghiệp ở mỗi thời kỳ. Chính sách người cày có ruộng phù hợp với lao động thủ công. Chính sách tập trung hoá ruộng đất sản xuất phù hợp với phát triển nông nghiệp trong thời kỳ chiến tranh.
e 4 Chính sách giao ruộng đất cho nông dân phù hợp với sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Thực hiện Luật Đất đai, hiện cả nước đang có tới 70 triệu thửa ruộng manh mún, bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 0,7 ha đất canh tác, có tới 7-8 thửa, có hộ lên tới 28-30 thửa. Ruộng đất manh mún đã hạn chế việc áp dụng cơ giới hoá và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất (Bộ NN&PTNT, 2003). Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn là thực hiện đồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” với mục đích là cho xuất hiện những vùng chuyên canh lớn.
Với Nghị quyết 6 của Bộ Chính trị (năm 1998), Nghị quyết 03 của Chính phủ (năm 2000) kinh tế trang trại chính thức được công nhận như một loại hình sản xuất của thời kỳ kinh tế thị trường. Kinh tế trang trại đã tập trung và tích tụ ruộng đất với nhiều hình thức khác nhau để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn. Đây là mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả trong cơ chế thị trường. Nhờ có chính sách về đất đai và các chính sách khác của Nhà nước, nông nghiệp đã có sự phát triển vượt bậc, không chỉ tăng so với các thời kỳ trước, mà quan trọng là nhiều loại đã đủ dùng trong nước và xuất khẩu với khối lượng lớn (năm 2005 xuất khẩu thuỷ sản đạt 2,73 tỷ USD; trên 5,25 triệu tấn gạo; 54,5 nghìn tấn lạc; 892,4 nghìn tấn cà phê; 587,1 nghìn tấn cao su; 108,8 nghìn tấn điều; 235,5 triệu USD rau quả; 109 nghìn tấn hạt tiêu; 87,9 nghìn tấn chè.) và đứng thứ hạng cao trên thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, điều.
Xu hướng tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức như: nhận chuyển nhượng đất, thuê đất, mượn đất, dồn đổi, tập trung ruộng đất. Tuy đạt được những thành tựu về tích tụ ruộng đất như trên, nhưng quá trình tích tụ ruộng đất đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần được tháo gỡ về cơ chế chính sách như: Chưa có quy hoạch về phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, theo hướng hiện đại bền vững. Mức hạn điền thấp, thời hạn sử dụng đất ngắn đã không khuyến khích nông dân tích tụ ruộng đất và yên tâm đầu tư phát triển sản xuất lâu dài. e 5 Chưa có chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp với tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hoá lớn.
Chưa có chính sách hỗ trợ đào tạo quản lý, kỹ thuật, thông tin thị trường, khuyến khích liên kết, chế biến và tiêu thụ nông sản cho nông dân tích tụ ruộng đất phát triển kinh tế trang trại. Chưa có chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân để rút bớt lao động nông nghiệp, tạo tiền đề cho tích tụ ruộng đất. Chưa có chính sách, cơ chế, quy hoạch giải quyết đầu ra, thường thì được mùa lại mất giá nên người dân không yên tâm đầu tư sản xuất. Gần 10 năm trở lại đây, vấn đề tích tụ ruộng đất tại Việt Nam được đề cập khá nhiều, nhưng với nhiều lo lắng và có phần né tránh, vì một loạt những băn khoăn như trên, nếu không tiến hành thận trọng,tích tụ ruộng đất sẽ trở thành như bắt bí hộ đói nghèo để mua được đất giá rẻ, hoặc thu hồi đất, lập dự án treo, hay phân lô bán nhằm làm giàu bất chính vì lợi ích của một nhóm người; hay có thể làm nảy sinh tầng lớp địa chủ mới.
Chính vì thế, nhìn từ tổng thể, việc tích tụ ruộng đất vẫn đang là một bức tranh vẽ dở và còn quá nhiều rào cản trên con đường đi đến giấc mơ đại điền của người nông dân. Hai “nút thắt” lớn nhất đang tồn tại hiện nay trong vấn đề tích tụ ruộng đất là nên tích tụ theo hình thức mua đất hay thuê đất và xử lý vấn đề lao động nông nghiệp thế nào khi họ rút ra khỏi thị trường này? Chỉ riêng đối với vấn đề nên mua đất hay chỉ là cho thuê đất, đã là vấn đề quá khó, khi vừa muốn đảm bảo yêu cầu nông dân không bị áp lực bởi nỗi lo “không tấc đất cắm dùi”, vừa đảm bảo yêu cầu sớm tích tụ đất đai để tổ chức được sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, để sản xuất theo kiểu hàng hóa. Những người tán thành quan điểm mua, bán cho rằng có tích tụ theo cách đó mới có thể yên tâm sản xuất bền vững, chứ nếu chỉ là thuê thôi thì tâm lý cũng không thể muốn đầu tư lâu dài trên mảnh đất đó. Thực tế, việc tích tụ ruộng đất diễn ra trong thời gian qua chủ yếu là theo hình thức này.
Nhưng luồng quan điểm nên “cho thuê”, “Đây là cách để nông dân “có chỗ lui về” không mất trắng đất”-ít nhất là về mặt tâm lý. Thực trạng tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa hiện nay đã làm cho nhiều hộ nông dân mất đất, trắng tay. Vì vậy, một chính sách cần thiết lúc này là làm sao để nông dân cho thuê đất chứ không bán đất. Doanh e 6 nghiệp đầu tư xây dựng kênh mương, cây giống và tổ chức sản xuất, nông dân được thuê làm việc trên chính thửa ruộng của mình.
Vậy nông dân vẫn còn sổ đỏ, có thu nhập, có công việc; doanh nghiệp có diện tích lớn sẽ sản xuất kinh doanh hiệu quả”. Hạn điền và tích tụ ruộng đất Tích tụ ruộng đất là: việc cá nhân hoặc tổ chức thực hiện dồn, tập trung nhiều ruộng đất vào một chỗ, là phương thức làm tăng quy mô về diện tích của thửa đất thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hiện nay, hạn điền và tích tụ ruộng đất đang trở thành vấn đề cần phải được quan tâm trong nền nông nghiệp ở nước ta. Điều 129 Luật Đất đai 2013 đã đề cập đến hạn mức giao đất nông nghiệp.
Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân tại tỉnh Nam Định là: không quá 02 ha đối với mỗi loại đất. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 ha. Quy định hạn mức đất sản xuất nông nghiệp như trên là để phù hợp với điều kiện quỹ đất và khả năng đầu tư sản xuất của các hộ nông dân ở nước ta hiện nay (Luật đất đai, 2013). Tại khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2013 đã nêu rõ: Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất.
Như vậy, chính sách đất đai của Nhà nước ta hiện nay là thực hiện hạn điền theo nguyên tắc vừa sử dụng có hiệu quả, vừa không để nông dân bị bần cùng hóa do không có đất để sản xuất, vừa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất hợp lý theo tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Khái niệm về hiện đại hóa - Sự phát triển hiện đại là giai đoạn phát triển hậu công nghiệp, sự phát triển này diễn ra với hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng trong kinh tế với sự xác lập của kinh tế thị trường hiện đại và quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế. Hiện đại hóa được xác lập bởi ba quá trình thay đổi sâu sắc: thay đổi trong hệ thống phát triển; chuyển từ hệ thống kinh tế thị trường cổ điển sang e 7 hệ thống kinh tế thị trường hiện đại; chuyển từ cách mạng công nghiệp với cơ khí hóa sang cách mạng khoa học công nghệ và quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa sinh hoạt kinh tế (Đỗ Kim Chung, 1999).