đặt vấn đề khuyến khích đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp kinh doanh, đó là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn trong nước và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới. Đối với doanh nghiệp nhà nước: Tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích. Tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; sớm xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, UBND đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp.
Chủ trương này thể hiện thái độ kiên quyết của Đảng, chuyển sang kinh tế thị trường, khắc phục tư tưởng trông chờ, không phân định rõ chức năng kinh doanh và chức năng phục vụ dẫn đến tình trạng thua lỗ kéo dài của một số doanh nghiệp nhà nước. 13 Đối với kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã: Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; đẩy mạnh liên kết và hợp tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ về tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường, tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ. Rõ ràng, khi kinh tế hộ càng phát triển thì nhu cầu liên kết để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm càng cần thiết, điều này phản ánh tính chất khách quan của sản xuất hàng hóa.
Đối với kinh tế tư nhân: Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước. Từ chỗ chúng ta không thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, coi đó là nguồn gốc dẫn đến sự hình thành chủ nghĩa tư bản, đến nay chúng ta coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đây là bước tiến dài trong nhận thức lý luận của Đảng ta, là kết quả tổng kết thực tiễn của 30 năm đổi mới. Đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Ngoài các thành phần kinh tế cơ bản nêu trên, văn kiện còn khẳng định: Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Về chủ trương quản lý chung, văn kiện xác định: Trong quản lý và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cần phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước, đồng thời kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực. 14 Như vậy, văn kiện Đại hội XII của Đảng có nhiều nhận thức mới đối với các thành phần kinh tế, nhất là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò trở thành động lực của nền kinh tế đối với kinh tế tư nhân, quan điểm lựa chọn tiếp nhận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và quan tâm hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp… Những điểm mới nêu trên cần được nhận thức đầy đủ và sớm đưa vào thực tiễn cuộc sống. Một số tiêu chí cơ bản để đánh giá cơ cấu kinh tế Trong nghiên cứu hay đánh giá cơ cấu nền kinh tế quốc dân, rất cần có chỉ tiêu để đánh giá.
Về chỉ tiêu để đánh giá cơ cấu kinh tế, có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau. Tuy nhiên, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau để xem xét cơ cấu kinh tế: Chỉ tiêu GDP, chỉ tiêu lao động, chỉ tiêu giá trị sản xuất và chỉ tiêu về trang bị kỹ thuật. Tuy nhiên, đối với các quốc gia mới chuyển sang cơ chế thị trường như nước ta, lực lượng sản xuất còn thấp kém và năng suất lao động chưa cao, với chính sách kinh tế mở, đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, cần xem xét thêm cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu tỉ trọng giá trị tổng sản lượng trong nội bộ từng ngành. Trong số các chỉ tiêu trên, đáng chú ý hơn cả là tỉ lệ người lao động giữa các ngành, các khu vực kinh tế.
Nhất là tỉ lệ người lao động trong nông nghiệp so với các ngành nghề khác và cơ cấu các khu vực, các ngành kinh tế quan trọng, các thành phần và vùng kinh tế trong GDP. Các số liệu thống kê kinh tế thế giới đều cho thấy rằng các chỉ tiêu trên là rất khác nhau giữa các nhóm nước. Ở các nước có nền kinh tế phát triển cao, số người lao động trong khu vực I là rất thấp, tỉ lệ khu vực II trong cơ cấu GDP là không đáng kể, khu vực II và khu vực III luôn chiếm tỉ trọng cao và có vị trí quan trọng trong cơ cấu GDP. Trái lại, những nước đang phát triển có nền kinh tế lạc hậu thì tỉ lệ lao 15 động trong khu vực I khá cao, khu vực II và khu vực III là thấp.
Tuy nhiên khu vực II đang dần dần chiếm vị trí quan trọng trong CCKT. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) là sự thay đổi CCKT từ trạng thái kinh tế này sang trạng thái kinh tế khác cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Về thực chất đó là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt biểu hiện (ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế) nhằm hướng sự phát triển của cả nền kinh tế vào các chiến lược kinh tế - xã hội đã được đề ra cho từng thời kỳ cụ thể.
CDCCKT ở nước ta thực chất là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ lạc hậu mang tính chất tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế. Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành của nền kinh tế mà bắt đầu từ nội bộ của các ngành theo xu hướng nhất định. CDCCKT có ý nghĩa rất đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. CDCCKT góp phần làm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh và vững chắc, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước đồng thời làm cho nền kinh tế có khả năng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Tác giả luận văn cho rằng CDCCKT là sự thay đổi tỉ trọng trong cơ cấu các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân. Các bộ phận này gồm: cơ cấu ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất xã hội và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng năm thời kỳ cụ thể. Tính tất yếu khách quan phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nền kinh tế có sự phân công lao động, có các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận. Tỉ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó.
CCKT là biểu hiện cô 16 đọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong từng năm phát triển nhất định. Nhưng không vì thế mà áp đặt chủ quan, tự đặt cho các ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội. Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vội nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ý muốn, thường dẫn đến hệ lụy không nhỏ, bởi sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầm chiến lược, khó khắc phục, hậu quả lâu dài. Mỗi một CCKT đều mang tính lịch sử xã hội nhất định, nền kinh tế chỉ phát triển khi những bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được mối quan hệ cân đối.
Sự tăng giảm tỉ trọng của các ngành kinh tế, thay đổi mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế là tất yếu khách quan của quá trình phát triển kinh tế. Vì vậy, điều chỉnh tỉ lệ trong CCKT tức là đưa nền kinh tế đến trạng thái phát triển tối ưu nhằm đạt được hiệu quả cao nhất thông qua tác động có ý thức của con người đối với các quy luật khách quan. Như vậy, CCKT là một hệ thống động, luôn ở trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự vận động là yếu tố tất yếu của mỗi sự vật hiện tượng.
Ở từng thời kỳ phát triển, nếu phù hợp với trình độ sản xuất sẽ xuất hiện một CCKT hợp lý ứng với thời kỳ đó. Sự phát triển trong thực tiễn mà có cơ cấu kinh tế hợp lý thì nền kinh tế sẽ phát triển thuận lợi hơn và ngược lại thì nền kinh tế sẽ gặp khó khăn. Do đó, quá trình CDCCKT để tạo nên sự phát triển hợp lý và phù hợp với xu hướng là một tất yếu khách quan. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình CDCCKT là một quá trình dẫn đến sự biến đổi về chất của CCKT.
CCKT chuyển dịch theo yêu cầu và phương hướng tiến bộ hơn, mang tính quy luật trong điều kiện cụ thể của bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa. Về nguyên tắc, quá trình CDCCKT theo các hướng khác nhau nhưng theo một quy luật là ngày càng tiến bộ hơn, hiện đại hơn và hiệu quả hơn.