chương 1 Khi xây dựng các công trình trên nền thắm nước, nếu tạo ra sự chênh lệch cột nước giữa thượng hạ lưu công trình thì khả năng sẽ tạo ra dòng thấm. Khi có dòng: thắm qua công trình sẽ làm cho hỗ mắt nước thượng lu và đồng thắm có thể gây nên mất ồn định công trình; dòng thắm mạnh hay yếu phụ thuộc chủ yêu vào tính chất cơ lý của nền, loi đất đá, mức độ phong hỏa.độ chênh cột nước và chiều di đường thắm (), Để tính toán mức độ thắm nước dưới đấy công trình có nhiều phương pháp, la chọn phương pháp nio cần phải phân tích điều kiện thưc tẾ và yêu cầu kết quả cao hay thip. Két quá tính toán là những số iệu ban đầu để đảnh gi khả năng mắt nước của nền công trình và giải pháp xử lý chồng thắm cho nền. Trong thực tẾ ngoài kết quả tính toán cần phải tiến hành ép nước thí nghiệm ngoài hiện trường để đánh giá mức độ chống thắm của nền công trình, 16 CHƯƠNG 2 NHUNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN XỬ LÝ CHÓNG THÁM CHO NI 3.1 Mỡ đầu Đổi với công trình thủy lợi, sức phá hoại của tự nhiên là một yếu tổ thường.
xuyên tổn tại. Cho đến nay, toàn bộ lý luận va kinh nghiệm ma loài người đã tích lũy, được trong thực tiễn tuy đã có thé hạn chế được khả năng phá hoại công trình trong một phạm vi nhất định nhưng vẫn không thể xóa bỏ trit để được khả năng này Trong các yếu tổ tự nhiên uy hiép an toàn của công trình thủy lợi thi yếu tổ chủ yếu là điễu kiện thủy văn, thủy lực và dia chit, Ngoài ra các yếu tổ do con người gây ra như công tác khảo sát, thi kế, thi công, vận hành và quản lý công, trình không hợp lý hay không đảm bio đúng yêu cầu kỹ thuật, hay cả những tác động phá hại môi trường như đốt phá 1g bùa bãi, việc đô thị hóa làm giảm diện tích lớp phủ thực vật dẫn đến thay đổi môi trường tự nhiên làm thay đổi điều kiện khí hậu, chế độ thay van, thủy lực của các lưu vực sông, v. ci tự gy rũ những thảm họa, những sự cổ công trình thủy lợi không chỉ thệt hại vỀ của cải vat chất mà nhiều khi tôn thất về nhân mang cũng rit nghiêm trọng “Các nguyên nhân gây sự cố ở các đập có thé phân theo nhóm chủ yếu: « Nguyên nhân đo yếu tổ tự nhiên (địa chất, mưa bảo, lũ. + Nguyên nhân do yếu tổ khảo sát, thế kế + Nguyễn nhân do yếu tổ thi công + Nguyễn nhân do yếu tổ quản lý, vận hành Do đặc thủ của đập đất có thể xây dựng trên nhiều loại nỄn, dễ thích ứng với độ lún của nền.
tin dung được vật liệu địa phương, giảm giá thành, thi công đơn giản. nên ngày cảng được phổ biển rộng ri ở nước ta cũng như trên thể giới. Tuy nhiên cũng có không it số lượng đập đất được xây đựng trên nền đất yếu (vỀ cường độ hoặc khả năng chống thắm hoặc cả hai) và trong quả trnh triển khai xây dựng một công trình đập đắt nào đó từ khâu khảo sát đến thiết thí công và quản lý vận hành, do nhiều nguyên nhân khác nhau mã không đánh gi đăng thực trạng địa chất 1 của nin để xác định giải pháp kỹ thuật xử lý mén phủ hợp dẫn đến các sự số đáng tiếc cho công tình. Những giải pháp xử lý chống thắm cho nỀn đập ~ Tưởng chồng thắm bằng tường răng kết hợp lời giữa; - Chống thắm bằng sin phủ; ~ Chống thắm bằng eit; - Khoan phụt vữa xi mang ; - Phương pháp tạo hào chống thắm bằng vật liệu ~ Xi mãng- Bentdmite; - Các giải pháp kết hợp, 2.2 Đặc điểm và phân loại nền đập Nén đập đất phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau đây: - Đủ cường độ chẳng cất: ~ Chịu tải tốt; - Íthắm nước Nền có cường độ chống cắt nhỏ dễ gây mắt ôn định cho thân đập.
Nếu sức chịu tải kém nén sẽ lần nhiễu và lún không đều. Nén thắm nước mạnh sẽ iêu hao quả nhiều nước làm giảm hiệu ich của hd, mặt khác có thể gây x6i ngầm và diy trồi đất Dựa vào địa chất người ta phân nền thành 4 loại: - Nền đã hoặc nỀn đá có lớp phủ không dây; = Nền söi, cuội rất dày thắm nước mạnh; ên cát nhỏ và cố lớp bún; - Nên sét Hai loại nền đầu tiên thường có cường độ chống cắt cao và chịu tải tt, Nền sôi ¡ hoặc đá nứt nẻ nhiều có nhược điểm thấm nước mạnh. Với nền sét chủ yếu phải xét cường độ chống cắt. Nền cát nhỏ và có bùn là loại in rit ấu.
NÊn thiên nhiên phức tạp néu không được xử lý thích đáng là một trong những nguyên nhân phá hoại đập. Do dé phải dựa vào các tính chất cơ lý của nền để thiết kế mặt cắt đập, Bắt kỳ : có thể dip đập một cách an toàn nếu biết xử lý tốt. Trên nỀn bùn ad, cường độ chống cất nhỏ, khả năng thst nước kén, có thể dip đập cao 20 - 30m, 18 Vấn đề thắm nước qua thân đập, biện pháp phòng chống thắm, cấu tạ thân đập én định của mái và giá thành công tinh đều liên quan với nền tốt hay xu. Bởi vậy phải coi trọng việc lựa chọn và xử lý nén đập đắt.3 Đặc điểm và phân loại các phương pháp nhằm tăng én định nền nền 2.
Nhâm làm chặt đất trên mặt bằng cơ học Là một trong những phương pháp cổ điển nhất, đã được sử dung từ law trên thé giới. Bản chất của phương pháp là dùng các thiết bị cơ giới như xe lu, máy dim, búa rung.âm chặt đất. Các yếu tổ chính làm ảnh hướng đến khả năng đầm chặt của đất gồm: độ 4m, công đầm, thành phần hạt, thành phần khoáng hoá, nhiệt đội của đất và phương thức tác dụng của tải trọng. Để làm chặt đất edn phải xác định urge độ âm tốt nhất ứng với giá tị khối lượng thé tích khô lớn nhất Do được làm chặt, các chỉ tiêu về độ bền của đất tăng lên đáng kể, tính biến dạng và tinh thắm giảm di, Hiện nay phương pháp này được sử dung rộng rãi trong xây dung đường giao thông, sân bay, các công trình thủy lợi va trong xây dựng dân dụng, công nghiệp.
Có một số phương pháp lim chặt đất bằng cơ học như sau: + Lâm chặt đắt bằng đầm rơi: Ban chất của phương pháp là ding dim roi bằng vật nặng làm chặt đất. Vật đầm thường làm bằng bê tông cốt thép hoặc bằng gang, có khối lượng từ 2 đến4 td cho rơi từ độ cao 4 + Sm, Chiều day nén chat của đất phụ thuộc vào đường kính, khối lượng và chiều cao rơi của vật dim cũng như tính chất của đất. Thông thường, độ chặt của đất tăng lên ở các lớp trên mặt và giảm đi ở những lớp phía dud. + Lim chặt đắt bằng đẳm lan Bản chất của phương pháp là ding dim lăn, xe lu để làm chặt đất.
Phương pháp này thường được sit đụng khi lâm đường giao thông. Tuy thuộc trọng lượng xe lu và số lần đầm ma chiều sâu kim chặt có thể đạt đến 0,5 + 0,6 m. Khi dùng dim lăn có mặt nhẫn, do chiều dày lớp đắt được đầm nhỏ nên hiệu suất đầm thường thi , chất lượng đầm không KI ối lượng thé tích của đắt giảm theo chiều sâu Vi vay đối với các công trình dip đắt lớn dùng dim mặt nhẫn không hiệu qua. Đối với các loại đắt dính dạng cục t i dùng đầm kin chân dé mang lại hiệu qua cao hơn, 19 chit lượng đầm đều hơn và tạo ra mặt rip liên kết tốt giữa các lớp đất dim với nhau Hiện nay, người ta còn sử dung cả dim lăn bảnh hơi để đầm chặt cả đất dính.
và đắt rời. Mức độ dim chặt phụ thuộc vio số lần dim, chiều diy lớp dim, áp sắt banh xe, tải trong xe, vận tốc di chuyên của xe cũng như độ âm và cấu tạo của đất. Mun đắt được dim chặt như nhau ở mọi noi thi yêu cầu tải trọng dim phải phân bổ cđều lên các bánh xe, không phụ thuộc vào độ gỗ ghé của mặt đất và sức chịu tải của tại các vị + Lam chặt bằng đầm rụng: Phuong pháp làm chặt đắt bằng đầm rung chủ yếu dùng để nén chặt đất cát Nếu hàm lượng hat sét trong đắt nhỏ hơn 6% thi hiệu qua nén chặt thường gắp 4+ 5 so với các phương pháp dim nén khác, Bản chất của phương pháp là dùng các chấn động tạo ra các dao động liên tục có tin số cao và biên độ nhỏ, làm cho tinh toàn khi của đất bị phá hoa, các het cát di chuyển đến chỗ trồng giữa các hạt có kích thước lớn hơn. Tác dung của dim rung lớn nhất khi xảy ra hiện tượng cộng hưởng khi mà tin số dao động của máy trùng với tin số dao động của đất dim, Chiều dây lớp đất được làm chặt bằng dim rung thường thay d 03 đến 1,5 m, đôi khi đến 2 m.2, Nhâm làm chặt đắt dưới sâu bằng chắn động và thuỷ chấn Khi đt cất hoặc đất đắp có chiều sâu phân bổ lớn thường dũng phương pháp chắn động hoặc thủy chin để nén chặt.
+ Nén chặt đắt bằng chấn động DE nén chặt đất cát ở dưới sâu người ta thường dùng các loại đầm chuỷ có. tin số 2900 + 3000 vòng phút. Các yếu tổ ảnh hưởng đến hiệu qin nén chat đất là gia tốc chấn động, độ âm của dit, khoảng cách giữa các vị tí dim, tính đàn h đất và bán kinh máy chấn động, Khi làm chat đắt cát ở độ sâu nhỏ hơn 3 m thi bin kính làm chặt có thé đạt 1,5 m. Khi bán kính máy chấn động tăng thì gia tốc chấn.
động và hệ số nén chất chẩn động cũng tang lên + Nén chặt đất bằng thủy chắn. 20 Khi lớp cát cin nón chặt có chiều diy lớn thi người ta dũng phương pháp thủy chấn. Bản chất của phương pháp là vừa phun nước vừa tạo chấn động tác dụng.