CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu con người và xã hội, và thông qua hoạt động hữu ích đó mà kiếm lời. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu.
và sức lao động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá đó để thu lợi nhuận. Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh ”. Trong đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Phân loại doanh nghiệp [14], [17] Tùy vào mục đích nghiên cứu, những đặc điểm về hình thức sở hữu vốn, về quy mô, hay địa vị pháp lý, có nhiều cách phân loại doanh nghiệp khác nhau. Trong đó, ba cách phân loại doanh nghiệp phổ biến nhất là: - Phân loại căn cứ theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp; - Phân loại căn cứ theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế; - Phân loại theo quy mô doanh nghiệp. Theo mỗi cách phân loại trên, doanh nghiệp được phân chia thành các loại 7 hình doanh nghiệp khác nhau với khái niệm và đặc trưng cơ bản riêng biệt. Cụ thể như sau: Sơ đồ 1.1: Các cách phân loại doanh nghiệp 1.
Căn cứ hình thức pháp lý của doanh nghiệp Theo tiêu thức này doanh nghiệp được phân thành các loại sau: - Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. - Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, không được đồng thời là thành viên của công ty hợp danh khác hoặc chủ doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa tư nhân. Thành viên góp vốn vụ của công ty trong phạm vi phần vốn góp đã góp vào công ty.
8 - Công ty cổ phần: Là một công ty trong đó các thành viên (cổ đông) có cổ phiếu và tự chịu trách nhiệm đến hết giá trị những cổ phần mà mình có. - Công ty TNHH một thành viên: Là doanh nghiệp do một tổ chức sở hữu, gọi tắt là chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. - Công ty TNHH 2 thành viên trở lên: Là doanh nghiệp, trong đó các thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tuơng ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty. - Hợp tác xã: Là loại hình kinh tế tập thể, do những nguời lao động và các tổ chức có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Theo tiêu thức này, doanh nghiệp đuợc phân thành các loại: - Doanh nghiệp nông nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, huớng vào việc sản xuất ra những sản phẩm là cây, con. Hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. - Doanh nghiệp công nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm bằng cách sử dụng những thiết bị máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm. Trong công nghiệp có thể chia ra: công nghiệp xây dựng, công nghiệp chế tạo, công nghiệp điện tử.
- Doanh nghiệp thương mại: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuơng mại, huớng vào việc khai thác các dịch vụ trong khâu phân phối hàng hóa cho nguời tiêu dùng tức là thực hiện những dịch vụ mua vào và bán ra để kiếm lời. Doanh nghiệp thuơng mại có thể tổ chức duới hình thức buôn bán sỉ 9 hoặc buôn bán lẻ và hoạt động của nó có thể hướng vào xuất nhập khẩu. - Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ càng được phát triển đa dạng, những doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã không ngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu mà còn ở tính đa dạng và phong phú của lĩnh vực này như: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải, du lịch, khách sạn, y tế. Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp đước phân làm ba loại là Doanh nghiệp quy mô lớn, Doanh nghiệp quy mô vừa và Doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước người ta dựa vào những tiêu chuẩn như: - Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp. - Số lượng lao động trong doanh nghiệp. - Doanh thu của doanh nghiệp. - Lợi nhuận hàng năm.
Trong đó tiêu chuẩn tổng số vốn và số lao động được chú trong nhiều hơn, còn doanh thu và lợi nhuận được dùng kết hợp để phân loại. Tuy nhiên, khi lượng hóa những tiêu chuẩn nói trên thì tùy thuộc vào trình độ phát triển sản xuất ở mỗi quốc gia, tùy thuộc từng ngành cụ thể, ở các thời kỳ khác nhau mà số lượng được lượng hóa theo từng tiêu chuẩn giữa các quốc gia không giống nhau. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Theo luật các tổ chức tín dung: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Trong các nghiệp vụ cấp tín dụng thì hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay ra đời sớm nhất, 10 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của gân hàng thương mại và quen thuộc nhất với những người sử dụng vốn vay từ ngân hàng. Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời nhất của ngân hàng, nhưng đồng thời cũng là hoạt động đem lại nhiều rủi ro nhất. Ngân hàng thương mại khi cho khách hàng vay vốn sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ lãi tiền vay mà khách hàng trả.
Tuy nhiên, ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro về lãi suất, về thanh khoản, về kỳ hạn. mà nếu không có những biện pháp quản lý phù hợp, ngân hàng rất có thể sẽ bị phá sản. Phương thức phân loại hoạt động cho vay phổ biến nhất tại các ngân hàng thương mại là phân loại theo đối tượng khách hàng, gồm cho vay KHDN và cho vay khách hàng cá nhân. Trong đó, Cho vay khách hàng doanh nghiệp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay KHDN là hoạt động phổ biến, đem lại hiệu quả cao nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng. Đặc biệt hiện nay, với sự gia tăng số lượng và nhu cầu vay vốn của bộ phận KHDN, hoạt động cho vay KHDN ngày càng được các ngân hàng thương mại đẩy mạnh và xác định là đối tượng khách hàng tiềm năng. Đặc trưng cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại - Về số lượng khách hàng: Khác với cho vay cá nhân, số lượng KHDN vay vốn tại ngân hàng chiếm tỷ trọng thấp. Tuy nhiên mức độ đa dạng của KHDN là rất cao vì các doanh nghiệp hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực trong nên kinh tế.
- Về mức độ tin cậy của thông tin: thông tin về KHDN có độ tin cậy cao hơn so với khách hàng cá nhân. Vì các doanh nghiệp được thành lập đều được sự chứng nhận của các cơ quan nhà nước như là các pháp nhân. Các thông tin báo cáo của doanh nghiệp đều phải liên quan đến nhiều bên như cơ quan thuế, môi trường, tài chính. - Về mục đích vay vốn: vì các doanh nghiệp hoạt động trong rất niều lĩnh vực khác nhau nên mục đích KHDN đến ngân hàng xin vay vốn cũng rất đa dạng 11 - về giá trị vốn vay: Các khoản vay của doanh nghiêp thường có giá trị lớn và có thể là rất lớn, giá trị các khoản vay của KHDN lớn hơn rất nhiều so với các khoản vay của khách hàng cá nhân nhưng số lượng các khoản vay của KHDN lại ít hơn so với số lượng các khoản vay của khách hàng cá nhân.
- Về tài sản đảm bảo: mặc dù các KHDN có nhu cầu vay vốn rất lớn tuy nhiên thì khả năng đáp ứng về tài sản bảo đảm của doanh nghiệp lại có hạn. Bởi vì doanh nghiệp được lập ra với mục đích chính là kinh doanh nên mọi tài nguyên của doanh nghiệp đều dùng để thực hiện mục đích chính này. Các doanh nghiệp cũng thường hoạt động dựa vào nguồn vốn vay là chủ yếu nên tài sản bảo đảm của doanh nghiệp thường rất hạn chế.