Chương 1 đề cập cơ sở lý luận về chiến lược và CLKD đối với DN, các mô hình phân tích môi trường bên ngoài và bên trong DN; Các chiến lược cạnh tranh chung; Phân tích và lựa chọn chiến lược của DN theo phương pháp trọng số. Lý luận về chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp 1. Một số khái niệm về chiến lược Theo nghĩa thông thường, chiến lược là một thuật ngữ quân sự được dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bố lực lượng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù hoặc đạt được mục tiêu quân sự của mình. Carl von Clausewitz - nhà binh pháp của thế kỷ 19 - đã mô tả chiến lược là "Lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến.
Những chiến dịch ấy sẽ quyết định sự tham gia của từng cá nhân". Gần đây hơn, sử gia Edward Mead Earle đã mô tả chiến lược là "Nghệ thuật kiểm soát và dùng nguồn lực của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia nhằm mục đích đảm bảo và gia tăng hiệu quả cho quyền lợi thiết yếu của mình. Ngày nay, khái niệm chiến lược được sử dụng rất phổ biến và được coi là nền tảng cho hoạt động của các DN kinh doanh. Có rất nhiều khái niệm chiến lược như Chiến lược là mô hình về các mục tiêu, chủ đích và các kế hoạch để đạt được mục tiêu đó (Kenneth, 1965) hoặc như Chiến lược là sọi chỉ đỏ xuyên suốt các hoạt động của một tổ chức (Ansoff,1965).
Chiến lược là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực của tổ chức như con người, tài sản, tài chính… nhằm mục đích nâng cao và đảm bảo những quyền lợi thiết yếu của 5 mình. Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển The Concept of Corporrate Strategy. Theo ông, chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe doạ.2 Bản chất của chiến lược kinh doanh - CLKD của DN là một mô thức kinh doanh của DN, xét theo khía cạnh CLKD là cương lĩnh hoạt động của DN; phương thức sử dụng các nguồn lực; căn cứ để xử lý mọi vấn đề của DN. - CLKD là sự thể hiện quan niệm giá trị của DN, tinh thần tiến thủ, ý chí ngoan cường của người lãnh đạo DN, phản ánh sự đánh giá của người lãnh đạo về hoàn cảnh khách quan, điều kiện chủ quan của DN.
Chỉ khi người lãnh đạo đánh giá đúng hoàn cảnh khách quan và điều kiện chủ quan của DN mới có thể đề ra CLKD đúng đắn. Nếu không CLKD sẽ là sai lầm. - CLKD là sự sáng tạo trong quản lý, có nghĩa là DN, căn cứ vào mục tiêu nhất định, sắp xếp hình thành một hệ thống quản lý mới hữu hiệu, có khả năng cạnh tranh. Nếu một DN chỉ đơn thuần bắt chước DN khác thì không thể có được sự phát triển và phồn vinh thực sự.
Do đó việc xây dựng CLKD phải xuất phát từ tình hình thực tế của DN. Hai DN ở cùng một khu vực, sản phẩm giống nhau, quy mô giống nhau nhưng CLKD không thể hoàn toàn giống nhau vì điều kiện chủ quan của họ khác nhau. Đồng thời sự sáng tạo về quản lý phải kết hợp chặt chẽ với sự sáng tạo về tổ chức, sáng tạo về kỹ thuật mới có thể phát huy tác dụng của CLKD. - CLKD là kế hoạch hành động của DN, việc xây dựng CLKD là quan trọng nhưng thực hiện chiến lược còn quan trọng hơn nhiều.
Nếu có chiến lược nhưng không thực hiện thì chiến lược đó trở thành vô nghĩa. Muốn thực hiện được chiến lược thì toàn thể công nhân viên phải nắm vững chiến 6 lược, phải biến chiến lược đó thành kế hoạch hàng năm, kế hoạch của từng bộ phận, thành hoạt động của mọi người và phải có tính khả thi. - CLKD là thể hiện vị thế cạnh tranh của DN, khi xây dựng CLKD, DN cần phân tích hoàn cảnh khách quan của mình, tìm hiểu những cơ hội và thách thức mà hoàn cảnh khách quan ảnh hưởng đến DN. Đồng thời cũng phải nghiên cứu những điều kiện chủ quan của DN để biết được những điểm mạnh và điểm yếu của mình.
CLKD của DN phải kết hợp tốt những cơ hội mà hoàn cảnh khách quan mang lại với những điểm mạnh của DN, đồng thời phải có giải pháp khắc phục cho những thách thức và điểm yếu của DN. Chỉ có như vậy mới có thể đưa ra CLKD đúng. Đặc trưng của chiến lược kinh doanh Tính toàn cục: CLKD là sơ đồ tổng thể về sự phát triển của DN, nó quyết định quan hệ của DN với môi trường khách quan. Tính toàn cục của CLKD thể hiện trên 3 mặt: Phải phù hợp với xu thế phát triển toàn cục của DN, là cương lĩnh chỉ đạo toàn bộ hoạt động của DN; phải phù hợp với xu thế phát triển của đất nước về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội trong một thời kỳ nhất định; phải phù hợp với trào lưu hội nhập kinh tế của thế giới.
Tính toàn cục của CLKD đòi hỏi phải xem xét tất cả các bộ phận của DN, phải phân tích tình hình của toàn DN, hoàn cảnh toàn quốc và hoàn cảnh quốc tế. Nếu không có quan điểm toàn cục thì không thể có CLKD tốt. Tính nhìn xa: Trước kia nhiều DN vì không có quy hoạch chiến lược, gặp việc gì làm việc ấy, chạy theo phong trào nên làm việc vất vả mà không hiệu quả. Một trong những nguyên nhân của tình hình đó là do không nắm được xu thế phát triển của DN.
Do đó muốn xây dựng CLKD thì phải làm tốt công tác dự báo xu thế phát triển về kinh tế, kỹ thuật của xã hội. Một chiến lược thành công thường là một chiến lược dựa trên cơ sở dự báo đúng. 7 Tính cạnh tranh: Nếu không có cạnh tranh thì không cần thiết xây dựng và thực hiện CLKD. Do đó tính cạnh tranh là đặc trưng cơ bản nhất của CLKD.
Trong thời đại hiện nay không có DN nào là không hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Vì vậy CLKD phải nghiên cứu làm thế nào để DN có được ưu thế cạnh tranh hơn đối thủ và do đó mà giành được thắng lợi trong cạnh tranh. Tính rủi ro: CLKD là quy hoạch phát triển của DN trong tương lai, nhưng môi trường sinh tồn của DN trong tương lai là điều không chắc chắn, có thể thay đổi. Quá trình thời gian của chiến lược càng dài thì các nhân tố không chắc chắn của hoàn cảnh khách quan càng nhiều, mức độ không chắc chắn càng lớn, rủi ro của chiến lược càng lớn.
Tính rủi ro của CLKD đòi hỏi nhà DN phải đứng cao, nhìn xa, quan sát một cách thận trọng, khách quan mới có thể có được chiến lược đúng đắn. Hiện nay chúng ta đang ở trong quá trình chuyển biến từ thể chế kinh tế kế hoạch sang thể chế kinh tế thị trường, môi trường vĩ mô của các DN thay đổi rất lớn. Do đó CLKD không nên tính toán quá dài, để bảo đảm tính linh hoạt và tính hiện thực của chiến lược. Tính chuyên nghiệp và sáng tạo: Các DN có thể căn cứ vào thực lực của bản thân để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp với sở trường và thế mạnh của mình, tránh những ngành mà các DN lớn có thế mạnh để giữ được vị trí độc quyền.
Đại đa số DN làm được như vậy đều thành công, phát triển và phồn vinh. Nhưng tiến bộ kỹ thuật và cạnh tranh thị trường là không có giới hạn. Do đó các DN phải không ngừng du nhập hoặc phát triển kỹ thuật tiên tiến thích hợp. Chuyên môn hoá và sáng tạo kỹ thuật thích hợp là biện pháp quan trọng để bảo đảm sự sinh tồn và phát triển của DN.
Đó cũng là đặc điểm quan trọng trong CLKD của DN vừa và nhỏ. 8 Tính ổn định tương đối: CLKD của DN phải có tính ổn định tương đối trong một thời kỳ nhất định. Nếu không, nó sẽ không có ý nghĩa chỉ đạo đối với hoạt động thực tiễn của DN. Môi trường khách quan và hoạt động thực tiễn của DN là một quá trình vận động không ngừng.
CLKD cũng phải có khả năng điều chỉnh, phù hợp với hoàn cảnh khách quan. CLKD không thể cố định một bề nhưng không thể thay đổi một sớm một chiều mà phải tương đối ổn định. Quy trình xây dựng chiến lược Để xây dựng một chiến lược đòi hỏi phải có tư duy chiến lược và trả lời cho được 3 câu hỏi “Hiện nay chúng ta đang ở đâu?, Chúng ta cần đi đến đâu? Và làm thế nào chúng ta đến được đó?” thông qua 7 bước 1. Đánh giá hiện tại: Sứ mệnh, mục tiêu, các chiến lược.
Phân tích môi trường kinh doanh: Kết cấu thị trường, Hiện nay tình hình phát triển, phân tích cạnh tranh và định vị DN. chúng ta đang ở đâu? 3. Phân tích môi trường vĩ mô: Môi trường kinh tế, xã hội, công nghệ và chính trị (PEST). Phân tích nội tại DN: Cấu trúc, các nguồn lực, quy Chúng ta cần trình, nhân sự và văn hoá DN.
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức Làm thế nào (SWOT). để chúng ta đến được 6. Phân tích lựa chọn chiến lược: Chung hay theo ngành. Đánh giá và thực hiện: Yêu cầu về nguồn lực, rủi ro và lợi ích.
9 Chúng ta thấy rằng, quá trình xác định CLKD có liên quan đến các kết dính về nhu cầu của khách hàng hoặc sẽ thoả mãn cái gì; các nhóm khách hàng hoặc ai sẽ được thoả mãn và các khả năng riêng biệt hoặc nhu cầu của khách hàng sẽ được thoả mãn như thế nào. Ba quyết định này là trung tâm của sự lựa chọn chiến lược cấp DN vì chúng hình thành nên nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh của DN so với các đối thủ và xác định cách thức mà DN sẽ tiến hành trong kinh doanh. Quy trình quản trị chiến lược bao gồm: Việc phân tích môi trường bên ngoài để xác định các cơ hội và nguy cơ, đồng thời phân tích môi trường bên trong để tìm ra điểm mạnh điểm yếu. Dựa trên sứ mạng, tầm nhìn, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ để vạch ra chiến lược và lựa chọn chiến lược thích hợp.
Tiến hành thực thi và điều chỉnh chiến lược, giám sát và đánh giá việc thực thi chiến lược từ đó làm cho tổ chức, DN phù hợp với chiến lược.