CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm, đặc điểm và phân loại chiến lược kinh doanh 1.1 Chiến lược và chiến lược kinh doanh * Chiến lược Thuật ngữ "Chiến lược" có nguồn gốc từ rất lâu và có rất nhiều nghĩa, mỗi tác giả sử dụng nó theo nghĩa riêng. Theo nghĩa thông thường, chiến lược (xuất phát từ gốc Hy Lạp là strategos) là một thuật ngữ quân sự được dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bố lực lượng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù trên cơ sở nắm được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương có thể không làm. Clausewitz - nhà binh pháp của thế kỷ 19 - đã mô tả chiến lược là “lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến”.
Có thể nói, trong lĩnh vực quân sự thuật ngữ “chiến lược” đã được coi như một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi của một cuộc chiến. Ở đây, hai yếu tố cơ bản của chiến lược là cạnh tranh và bất ngờ. Tạo ra được các yếu tố bất ngờ cho đối phương và giành thắng lợi. * Chiến lược kinh doanh Ngày nay, thuật ngữ chiến lược được sử dụng lan rộng và du nhập vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là kinh tế ở cả phạm vi vĩ mô và vi mô.
Khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “chiến lược kinh doanh” ra đời. Theo cách tiếp cận truyền thống, chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được những mục tiêu ấy. Tuy nhiên, quan niệm về chiến lược kinh doanh cũng được phát triển dần theo thời gian và người ta cũng tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. + Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển “The Concept of Corporate Strategy”.
Theo ông, “Chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa”. 1 + Theo cách tiếp cận coi chiến lược kinh doanh là một phạm trù của khoa học quản lý, Alfred Chandler (1962) viết: “Chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó”. + Theo cách tiếp cận kế hoạch hoá, James B. Quinn (1980) cho rằng: "Chiến lược kinh doanh đó là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các chương trình hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau".
+ Raymond Alain Thietart (1999) quan niệm: “Chiến lược là tổng thể các quyết định, các hành động liên quan tới việc lựa chọn các phương tiện và phân bổ nguồn lực nhằm đạt được một mục tiêu nhất định”.Glueck (1980) lại cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạnh mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện” + Bruce Henderson (năm 1963), chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn Tư vấn Boston (BCG), đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là việc định vị một doanh nghiệp vào vị thế tốt hơn đối thủ để tạo ra giá trị cho khách hàng. Henderson viết rằng “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức”. Porter cũng tán đồng nhận định này: “Chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt.
Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo”. Khái niệm chiến lược, ngầm hiểu hay mang tính chính thức, được coi là câu trả lời cho vấn đề cạnh tranh của doanh nghiệp. Gần đây hơn với nhận thức về đặc điểm tiến hóa liên tục và đầy bất trắc của môi trường kinh doanh, khái niệm chiến lược đã được mở rộng theo hướng “tập hợp quyết định và hành động cho phép dự đoán trước, hoặc ít nhất là dự báo được một tương lai có thể nhìn thấy trước nhưng vẫn còn đầy bất trắc và rủi ro”. + Theo Michael Porter (1985,1986): “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”.
Quan điểm này cho rằng kinh doanh là 2 phải có mưu kế, tức phải biết chớp cơ hội đầu tư nhanh, thu hồi vốn nhanh, song để tồn tại lâu dài thì mưu kế phải đi liền với đạo đức kinh doanh. Như vậy, trường phái này coi chiến lược là một nghệ thuật. Tuy nhiên, theo quan niệm mới niện nay, chiến lược kinh doanh bao gồm kế hoạch, mưu lược, dạng thức, vị thế và triển vọng mà doanh nghiệp có được hoặc muốn đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh với xu thế biến động của môi trường. Quan niệm hiện đại kết hợp cả hai loại chiến lược có chủ định và chiến lược phát khởi trong quá trình thực hiện, bao gồm một loạt những quyết định và hành động trong một mô thức tương quan năng động mà chính GS.
Henry Mintzberg (trường Đại học McGill University) đã tiếp cận và định nghĩa “chiến lược là một mô thức bao gồm một loạt những quyết định và hành động”. Vì vậy, theo ông chiến lược có thể có nguồn gốc từ bất kỳ vị trí nào, nơi nào mà người ta có khả năng học hỏi và có nguồn lực trợ giúp cho nó. Mô thức nói trên là một sản phẩm kết hợp giữa chiến lược có chủ định hay chiến lược được dự định trước (intented strategy) và chiến lược phát khởi hay chiến lược mới xuất hiện - mới nổi (emergent strategy) ngoài dự kiến ban đầu của nhà hoạch định chiến lược, nó được thể hiện dưới sơ đồ sau: Chiến Các chiến lược Chiến lược lược có chủ định được cân nhắc kỹ càng được chấp nhận và Chiến lược Chiến lược không được chấp phát khởi (mới Hình 1.1: Kết hợp giữa 2 loại chiến lược trong quá trình thực hiện Nguồn: Phạm Hùng Tiến. Bài giảng Quản trị chiến lược, Hải Phòng 4/2010 http://chqtkdk2.com/Documents/KH%20Chienluoc%20_1.pdf Minzberg đã tổng kết những nghĩa của từ đã được các học giả sử dụng và đưa ra năm nghĩa chính của từ chiến lược, đó là “5P” của chiến lược: 3 Kế hoạch : Plan Mưu lược : Ploy Mô thức, dạng thức : Pattern Vị thế : Position Triển vọng : Perspective Chiến lược là kế hoạch hay một chương trình hành động được xây dựng một cách có ý thức.
Chiến lược là mưu mẹo. Chiến lược là tập hợp các hành vi gắn bó chặt chẽ với nhau theo thời gian Chiến lược là sự xác định vị trí của doanh nghiệp trong môi trường của nó. Chiến lược thể hiện viễn cảnh của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng thể hiện sự nhận thức và đánh giá thế giới bên ngoài (môi trường) của doanh nghiệp. Với quan niệm này, chiến lược không chỉ là những gì doanh nghiệp dự định và lập kế hoạch thực hiện mà còn là những gì doanh nghiệp thực tế đang làm.
Dù tiếp cận hay quan niệm theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong khu vực hoạt động và các khả năng khai thác; chiến lược kinh doanh xác định các mục tiêu dài hạn, các chính sách cũng như các giải pháp cần thiết để thực hiện các mục tiêu đã xác định. Vậy chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là tập hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của các đơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp. Nó phản ánh các hoạt động của đơn vị kinh doanh bao gồm quá trình đặt ra các mục tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đó.2 Phân loại chiến lược kinh doanh * Căn cứ vào phạm vi tác động của chiến lược: + Chiến lược kinh doanh tổng quát: Là chiến lược bao quát toàn bộ mọi hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian dài. Thường thường chiến lược tổng quát mang tính định tính nên rất năng động và linh hoạt.
4 + Chiến lược kinh doanh trong từng lĩnh vực: Là chiến lược cụ thể hóa chiến lược tổng quát, là công cụ để đạt được mục tiêu trong chiến lược tổng quát. Cụ thể như chiến lược đầu tư, chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường… * Căn cứ theo quy trình chiến lược: + Chiến lược định hướng: Bao gồm những mục tiêu mang tính định tính thể hiện đường lối chung nhất, tổng quát nhất. + Chiến lược hành động: Là những chiến lược cụ thể để thực hiện các giải pháp hướng tới mục tiêu tổng quát. * Căn cứ vào cấp chiến lược kinh doanh: + Chiến lược kinh doanh cấp doanh nghiệp: Xác định những định hướng mà các đơn vị kinh doanh đơn ngành hay đa ngành hiện đang sản xuất kinh doanh hoặc dự định tham gia sẽ được tiến hành như thế nào trong kì dài hạn nhằm hoàn thành nhiệm vụ, đạt được các mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu dài hạn chung của doanh nghiệp.
Trên cơ sở chiến lược cấp doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh sẽ triển khai các chiến lược riêng của mình. + Chiến lược kinh doanh cấp đơn vị chiến lược (SUB - Strategic Business Unit) trong một công ty có thể la một ngành kinh doanh, chung một loạt sản phẩm… Chiến lược cấp này xác định những định hướng phát triển từng ngành (nếu là công ty đa ngành) hoặc từng chủng loại sản phẩm (nếu là công ty đơn ngành) trong kì dài hạn góp phần hoàn thành chiến lược cấp doanh nghiệp. Cấp đơn vị kinh doanh phải xác định rõ lợi thế của mỗi đơn vị so với từng đối thủ cạnh tranh trong ngành để xây dựng các chiến lược cạnh tranh phù hợp và tương thích với chiến lược cấp doanh nghiệp. + Chiến lược kinh doanh cấp chức năng: là những chiến lược hỗ trợ thực hiện mục tiêu như: chiến lược marketing, nhân sự, sản xuất, tài chính, … Các bộ phận này cần có các chiến lược để hỗ trợ thực hiện các chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược cấp doanh nghiệp.
Tùy theo bộ phận chức năng cụ thể chiến lược cấp này sẽ được lựa chọn phù hợp với chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược cấp doanh nghiệp.