CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn Tín dụng trung dài hạn “là hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống” (Tín dụng ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, TP. Hồ Chí Minh).
Hiện nay thời hạn của tín dụng trung dài hạn đuợc xác định nhu sau: Thời hạn tín dụng trung hạn từ 12 tháng đến 5 năm. Thời hạn tín dụng dài hạn từ 5 năm trở lên nhung không quá thời hạn khấu hao tài sản cố định, hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống. Nhu vậy nhìn chung các khoản tín dụng trung dài hạn có các đặc trung cơ bản sau: Chúng có thời hạn từ một năm trở lên Chúng đuợc trả bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo tháng, quý, năm hoặc nửa năm) trong kỳ hạn của khoản vay. Chúng thuờng đuợc đảm bảo bằng những tài sản luu động đem ra thế chấp hoặc cầm cố tài sản cố định.
Mục đích của hoạt động cấp tín dụng trung dài hạn là để đầu tu dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sảm cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội theo 8 định hướng của Chính Phủ và tuân theo quy định của pháp luật. Từ những khái niệm và đặc trưng nêu trên chúng ta có thể đưa ra một quan niệm chung về tín dụng trung dài hạn như sau: Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng và là một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho khách hàng trong một thời gian nhất định với những thỏa thuận hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định giữa khách hàng và ngân hàng. Đặc điểm tín dụng trung dài hạn - Một là: Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động của khách hàng và được hoàn trả trong thời gian ngắn dưới 1 năm thì tín dụng trung dài hạn phần lớn tài trợ cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệ của khách hàng. Do đó việc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài.
Những khoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu dựa vào khấu hao và lợi nhuận của dự án đầu tư. Trong khi đó ngân hàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tiến hành thu hồi vốn đầu tư khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quả, dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm. - Hai là: Độ rủi ro cao Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm nên độ rủi ro của một khoản tín dụng trung dài hạn là cao. Kết quả của một dự án đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Sự phân tích và xác định của ngân hàng về các rủi ro này là có hạn. Các ngân hàng cũng không thể khắc phục hết được các rủi ro này. Khi khoản cho vay dài hạn, thời gian đầu tư dài, có nhiều sự thay đổi trong môi trường kinh tế: như những thay đổi về chính sách, thị trường, lạm phát. sẽ khiến cho dự án 9 bị thua lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn.
- Ba là: Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung dài hạn là lớn Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tu mong đợi càng nhiều, cũng nhu vậy các khoản tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thuờng mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn. Biểu hiện cụ thể đó là lãi suất của các khoản vay tín dụng trung dài hạn thuờng cao hơn. Có đặc điểm này là do để bù đắp cho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cho vay trung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro. Các hình thức tín dụng trung dài hạn a.
Căn cứ vào nghiệp vụ tín dụng bao gồm: ■ Tín dụng theo dự án đầu tu là hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tu phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tu phục vụ đời sống, tín dụng theo dự án đầu tu bao gồm: - Cho vay đồng tài trợ: Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng. Hình thức này đuợc đuợc áp dụng trong các truờng hợp: Các dự án đầu tu đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thì không đáp ứng hết đuợc, ngân hàng thuờng chỉ đuợc phép đầu tu vốn tới một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình và không đuợc đầu tu quá nhiều vốn vào một khách hàng để đảm bảo an toàn vốn. Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhung rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết. Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối 10 đa nguồn vốn của họ cho đầu tu vào các dự án dài hạn.
- Cho vay trực tiếp theo dự án: là hình thức tín dụng trung - dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị truờ ng. Ngân hàng thuơng mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu tu của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ. Công việc của ngân hàng trong hình thức cấp tín dụng này không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến tính khả thi có hiệu quả của dự án nhu: quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị truờng, hiệu quả đầu tu. Bởi vì việc quy định cấp một khoản tín dụng sẽ ràng buộc ngân hàng với nguời vay trong một số thời gian dài cho nên ngân hàng cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹ luỡng các rủi ro có thể xảy ra.
■ Cho thuê tài chính là một trong các hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phuơng tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa Bên cho thuê và Bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phuơng tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của Bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê. Bên thuê đuợc sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã đuợc hai bên thoả thuận và không đuợc hủy bỏ hợp đồng thuê truớc thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê đuợc chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã đuợc hai bên thoả thuận.
Tài sản thuê bao gồm cả động sản và bất động sản: Động sản chủ yếu gồm máy móc thiết bị, ô tô dây chuyền công nghệ. hoặc bất động sản chủ yếu là cửa hàng, văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất. Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của nguời cho 11 thuê, còn đi thuê chỉ đuợc quyền sử dụng. Vì vậy, nguời đi thuê không đựơc bán chuyển nhuợng cho nguời khác.
Song họ đuợc huởng những lợi ích do việc sử dụng tài sản đó đem lại, đồng thời chịu phần vốn rủi ro có liên quan đến tài sản. Tín dụng thuê mua có một số hình thức nhu: thuê mua có tham gia của ba bên, thuê mua có sự tham gia của hai bên, tái thuê mua, thuê mua hợp tác, thuê mua giáp l ung. Căn cứ vào thời hạn tín dụng bao gồm: ■ Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Loại tín dụng này phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tu mở rộng sản xuất với quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh.
■ Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này đuợc dùng để đầu tu phát triển hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân, đầu tu chiều sâu để nâng cao năng suất lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt và khả năng hợp tác chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Căn cứ vào sự đảm bảo hoàn trả nợ bao gồm: ■ Tín dụng tín chấp là hình thức tín dụng mà việc cho vay vốn dựa trên uy tín của nguời vay để đảm bảo việc hoàn trả nợ. Loại tín dụng này áp dụng trong truờng hợp nếu giữa bên cho vay và bên đi vay có quan hệ thân tín hoặc bên đi vay là bên có uy tín rất lớn đối với bên cho vay.
■ Tín dụng thế chấp là hình thức tín dụng mà việc hoàn trả nợ đuợc đảm bảo không chỉ bởi uy tín của bên vay mà còn đuợc đảm bảo bằng các tài sản của bên vay hoặc bên bảo lãnh cho bên đi vay. Vai trò tín dụng trung dài hạn a. Đối với Ngân hàng thương mại ■ Tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng, 12 hạn cả về số lượng và chất lượng là hoạt động mang tính chiến lược của các NHTM. Với những khoản tín dụng trung và dài hạn có quy mô lớn và lãi suất cao, thời gian dài, tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng.
Do vậy tín dụng trung và dài hạn mang lại thu nhập chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của NHTM từ trước đến nay.