CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm bảo đảm tiền vay Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường là hoạt động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội đều nhanh chóng tác động tới hoạt động Ngân hàng có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Do vậy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, nó có thể xảy ra bất kỳ lúc nào với bất kỳ hoạt động nào đặc biệt là hoạt động tín dụng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng biểu hiện là việc cho vay mà khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Vốn cho vay bị ứ đọng khó có khả năng thu hồi.
Do đó để giảm bớt rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh đòi hỏi cán bộ, công nhân viên Ngân hàng phải thực hiện tốt công tác đảm bảo tiền vay. Để tạo cơ sở kinh tế và pháp lý trong công tác đảm bảo tiền vay ở đây được hiểu như thế nào? Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng thì bảo đảm tiền vay được định nghĩa như sau: “ Bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay” [1] Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định “Tài sản đảm bảo tiền vay là tài sản của khách hàng vay, của bên bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ bao gồm: tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của khách hàng vay, của bên bảo lãnh, tài sản thuộc 5 quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh và doanh nghiệp nhà nuớc, tài sản từ vốn vay” [1]. Với quan điểm nay cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi nợ trong công tác đảm bảo tiền vay chính là nguồn thu nợ thứ hai (tài sản cầm cố thế chấp) khi nguồn thu nợ thứ nhất gặp bất chắc. Bảo đảm tiền vay không đơn thuần chỉ bằng tài sản để đảm bảo mà đảm bảo tiền vay còn đuợc thực hiện bằng uy tín, tiềm lực tài chính của khách hàng có nhu cầu về vốn Ngân hàng thực hiện phân tích, đánh giá khách hàng cũng nhu tính khả thi của các phương án mà khách hàng đưa ra, từ đó xác định các phương án trả nợ thích hợp đối với khách hàng.
Mặc dù khách hàng đã có tài sản cầm cố thế chấp, song không có nghĩa là tài sản đó đảm bảo an toàn, không gặp rủi ro nếu như Ngân hàng chỉ nhìn một khía cạnh đòi hỏi tài sản được đảm bảo mà không quan tâm đến biện pháp an toàn khác để thu hồi vốn thì khoản vay đó có thể sẽ trở thành nợ khó đòi. Do vậy, cho vay được bảo đảm bằng uy tín, tiềm lực tài chính, tính khả thi của dự án cần được quan tâm đó là hướng phát triển chủ yếu.2 Vai trò của bảo đảm tiền vay đối với Ngân hàng Bảo đảm tiền vay là cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay của Ngân hàng: Bảo đảm tiền vay giúp cho ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý để có nguồn thu nợ thứ hai (từ xử lý tài sản đảm bảo tiền vay) khi nguồn thứ nhất không thực hiện được. Trong trường hợp khách hàng kinh doanh không hiệu quả, làm ăn thua lỗ. nên không có khả năng trả nợ, hay trong trường hợp do ý chí của khách hàng không muốn trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn trả nợ, thì ngân hàng sẽ bán các tài sản bảo đảm đó đi để thu hồi toàn bộ hoặc một phần khoản nợ (gốc và lãi).
Vì đây là một trong những điều kiện ngân hàng xem xét cho vay nên bảo đảm tiền vay giúp ngân hàng tạo lập và mở rộng việc tạo lập tín dụng đối với khách hàng. Nhưng nếu khoản vay không được bảo đảm bằng tài sản mà có thể bằng uy tín, khả năng tài chính, sự khả thi của dự án thì Ngân 6 hàng phải thẩm định chặt chẽ và sẽ quyết định cho vay với mức khác nhau tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy của khách hàng đối với Ngân hàng. Bảo đảm tiền vay kích thích hoạt động cho vay của Ngân hàng: Các quy định về bảo đảm tiền vay có tác dụng rất quan trọng trong việc kích thích hoạt động cho vay của Ngân hàng bởi vì nếu các bên tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng tuân thủ các điều kiện vay vốn, đặc biệt là điều kiện về bảo đảm tiền vay thì rủi ro tín dụng sẽ đuợc loại trừ. Bảo đảm tiền vay có vai trò quan trọng trong việc hạn chế tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia trong quan hệ tín dụng Ngân hàng: Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 quy định: “Nhà nuớc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong việc bảo đảm tiền vay.
Không một tổ chức, cá nhân nào đuợc can thiệp trái pháp luật vào việc bảo đảm tiền vay và việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các bên” [1]. Do đó các tranh chấp đuợc hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng cũng nhu sự phát triển của kinh tế - xã hội 1.3 Các hình thức bảo đảm tiền vay Thông thuờng có hai biện pháp bảo đảm tiền vay mà ngân hàng áp dụng đối với khách hàng khi vay vốn ngân hàng là cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Tùy từng khách hàng mà ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp nào cho phù hợp bảo đảm an toàn và sinh lợi cho ngân hàng 1.1 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản: - Ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ đuợc thừa huởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng làm căn cứ để thu hồi nợ trong truờng hợp khách hàng không trả hoặc không có khả năng trả nợ. Ngân hàng áp dụng biện pháp này đối với những khoản vay có độ rủi ro cao và đuợc coi nhu nguồn trả nợ tiềm năng thứ hai.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản chỉ là biện 7 pháp phòng ngừa rủi ro, ngân hàng không coi đó là nguồn trả nợ chính của khoản vay. Vì vậy mà ngân hàng phải lựa chọn hình thức hoặc loại bảo đảm nào mà bản thân khách hàng vay vốn cũng không muốn dùng nó như một nguồn trả nợ. - Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) không có hoặc không đủ. Do khách hàng luôn phải đối đầu với những rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng do thu nhập từ hoạt động giảm sút mạnh.
Vì vậy trừ những khách hàng có uy tín cao ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản bảo đảm khi vay vốn ngân hàng nhằm hạn chế bớt các thiệt hại cho ngân hàng khi khách hàng có khó khăn không trả được nợ. - Các hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản: + Bảo đảm tiên vay bủng tài sản câm cô: là hình thức mà người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (thường là thời gian nhận tài trợ). Cầm cố thích hợp với những tài sản Ngân hàng có thể kiểm soát và bảo đảm tương đối chắc chắn, đồng thời việc Ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người nhận tài trợ. Các tài sản cầm cố thường là các động sản dễ bán, chuyển nhượng, các tài sản gọn nhẹ dễ quản lý, bảo quản tương đối chắc chắn, không ảnh hưởng đến các yếu tố môi trường tự nhiên.
Theo Thông tư 07/2003/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 19/05/2003 về hướng dẫn một số quy định về đảm bảo tiền vay của các TCTD, Danh mục các tài sản cầm cố bao gồm: + Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và các vật có giá trị khác. 8 + Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gửi tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ. + Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, các giấy tờ khác trị giá được bằng tiền. Riêng đối với cổ phiếu của các tổ chức tín dụng phát hành, khách hàng vay không được cầm cố tại chính tổ chức tín dụng đó.
+ Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác. + Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. + Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật. + Tàu biển theo quy định của Bộ Luật hàng hải Việt Nam, Tàu bay theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố.
+ Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận. + Các tài sản khác theo quy định của pháp luật. + Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố, nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật quy định, trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố [12] - Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp: Là hình thức theo đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy chứng nhận sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Như vậy bên thế chấp chỉ giao giấy tờ sở hữu sang cho ngân hàng nắm giữ chứ không giao tài sản như cầm cố.