Tổng quan nghiên cứu
Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% bệnh tật tại các quốc gia đang phát triển liên quan trực tiếp đến nguồn nước ô nhiễm và điều kiện vệ sinh môi trường kém. Tại Việt Nam, báo cáo của Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn ghi nhận tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2012 chỉ đạt 56%, với khoảng 4% dân số vẫn còn thói quen phóng uế trực tiếp ra môi trường bên ngoài. Thực trạng chất thải phân người không được xử lý an toàn tạo ra nguồn truyền nhiễm nguy hiểm, gây bùng phát các đợt dịch tiêu chảy, thương hàn, tả, lỵ và tỷ lệ nhiễm giun sán cao trong cộng đồng. Tại tỉnh Hòa Bình, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh năm 2012 ước tính đạt 49%, trong đó huyện vùng cao Đà Bắc đối mặt với thách thức lớn khi tỷ lệ này năm 2013 chỉ đạt 26,53%, đồng thời có tới 11/20 xã đạt tỷ lệ dưới 10%.
Nghiên cứu được triển khai nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi sử dụng nhà tiêu hộ gia đình của người dân tại 5 xã thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình năm 2013, đồng thời xây dựng và đánh giá hiệu quả ban đầu của các giải pháp can thiệp truyền thông cộng đồng trong giai đoạn 2013 - 2014. Phạm vi nghiên cứu bao gồm 670 hộ gia đình tại 5 xã đại diện: Tu Lý, Hào Lý, Tân Minh, Hiền Lương và Vầy Nưa. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp nâng cao tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận công trình vệ sinh đạt chuẩn Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2011/BYT, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt và cải thiện chất lượng sức khỏe cho đồng bào miền núi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu tích hợp các mô hình truyền thông thay đổi hành vi và các phương pháp tiếp cận vệ sinh môi trường nông thôn đã được kiểm chứng trên thế giới và tại Việt Nam:
- Phương pháp Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ (CLTS): Thúc đẩy hành động tập thể thông qua quá trình kích hoạt nhận thức, giúp người dân nhận rõ nguy cơ dịch bệnh từ việc phóng uế bừa bãi để tự giác thay đổi hành vi.
- Phương pháp Giáo dục hành động (PAOT): Tập trung khuyến khích người dân thực hiện các cải tiến vệ sinh đơn giản, ít tốn kém, tận dụng tối đa nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương.
- Mô hình Tiếp thị vệ sinh (Sanitation Marketing - SM): Kết hợp tạo nhu cầu vệ sinh hộ gia đình với phát triển mạng lưới cung ứng vật liệu và dịch vụ xây dựng chi phí thấp.
- Phương pháp Giáo dục vệ sinh có sự tham gia của cộng đồng (PHAST) và Câu lạc bộ sức khỏe cộng đồng (CHCs): Nâng cao năng lực tự đánh giá và lập kế hoạch cải thiện điều kiện vệ sinh thông qua chu trình sinh hoạt 7 bước có sự tham gia.
Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa theo quy định của Bộ Y tế:
- Nhà tiêu hợp vệ sinh: Công trình tiếp nhận và xử lý phân bảo đảm cô lập mầm bệnh, ngăn không cho phân tiếp xúc với côn trùng, súc vật, không làm ô nhiễm đất, nguồn nước và không phát sinh mùi hôi thối theo QCVN 01:2011/BYT.
- Nhóm nhà tiêu dội nước và nhà tiêu khô: Bao gồm nhà tiêu tự hoại, thấm dội nước (nhóm dội nước) và nhà tiêu khô 2 ngăn, khô chìm có ống thông hơi (nhóm khô).
- Ủ phân hợp vệ sinh: Quy trình phân hủy sinh học yếm khí đối với phân người kéo dài tối thiểu từ 6 tháng trở lên nhằm tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh và trứng giun sán.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế can thiệp cộng đồng so sánh trước và sau can thiệp (Before-After Study), kết hợp phương pháp định lượng và định tính:
- Cỡ mẫu và thiết kế chọn mẫu: Cỡ mẫu định lượng gồm 670 hộ gia đình, tính toán dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ trong nghiên cứu dịch tễ học với hệ số tin cậy 95% (Z = 1,96), sai số cho phép d = 0,05, hiệu lực thiết kế DE = 2 và tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh tham chiếu p = 32%. Mẫu được phân bổ đều cho 5 xã (134 hộ/xã). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn: chọn chủ định huyện Đà Bắc, chọn ngẫu nhiên 5 xã bằng bốc thăm, chọn ngẫu nhiên 50% số thôn trong mỗi xã, chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu tiên theo bảng số ngẫu nhiên và chọn các hộ tiếp theo theo nguyên tắc cổng liền cổng.
- Nguồn dữ liệu và kỹ thuật thu thập: Thu thập dữ liệu định lượng qua phiếu phỏng vấn cấu trúc kết hợp bảng kiểm quan sát thực địa nhà tiêu theo QCVN 01:2011/BYT. Thu thập dữ liệu định tính thông qua 20 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo chính quyền, y tế, hội đoàn thể và 5 cuộc thảo luận nhóm với 40 đại diện hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp chuẩn.
- Phương pháp phân tích: Dữ liệu được nhập kép và làm sạch trên phần mềm Epi-Info 6.04, xử lý thống kê bằng phần mềm Visual FoxPro 7.0. Phân tích tương quan hồi quy logistic đơn biến và đa biến, xác định tỷ số chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% (95%CI) nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế với kiến thức và hành vi vệ sinh.
- Kế hoạch thời gian: Giai đoạn 1 (điều tra ban đầu) thực hiện vào tháng 3/2013; Giai đoạn 2 (triển khai các gói can thiệp truyền thông đa kênh) tiến hành trong 12 tháng từ tháng 4/2013 đến tháng 3/2014; Giai đoạn 3 (đánh giá hiệu quả sau can thiệp) hoàn thành vào tháng 4/2014.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
- Tỷ lệ bao phủ nhà tiêu ở mức rất thấp: Kết quả điều tra ban đầu trên 670 hộ gia đình cho thấy chỉ có 39,0% hộ gia đình hiện có nhà tiêu. Tỷ lệ hộ hoàn toàn không có nhà tiêu lên tới 61,0%. Sự phân bố có sự chênh lệch lớn giữa các địa bàn: cao nhất là xã Tu Lý đạt 59,7%, tiếp theo là Hiền Lương (44,8%), Hào Lý (40,3%), Vầy Nưa (29,1%) và thấp nhất là xã Tân Minh với chỉ 20,9%.
- Tỷ lệ hộ sở hữu nhà tiêu hợp vệ sinh rất hạn chế: Toàn địa bàn chỉ có 29,9% hộ gia đình có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh (chưa xét đến tiêu chuẩn đạt chuẩn kỹ thuật đầy đủ). Trong đó, nhà tiêu tự hoại chiếm 13,9%, thấm dội nước chiếm 9,1%, khô 1 ngăn chiếm 2,9%, khô 2 ngăn chiếm 2,6%, Biogas chiếm 1,3% và khô chìm có ống thông hơi chiếm 0,1%. Điều này đồng nghĩa với 70,1% hộ gia đình cần phải xây mới hoàn toàn công trình vệ sinh đạt chuẩn.
- Nhận thức về các bệnh truyền nhiễm liên quan đến phân người còn nghèo nàn: Có 55,4% người dân biết tiếp xúc phân người gây bệnh tiêu chảy, 37,0% biết về bệnh giun sán và 22,2% biết về bệnh tả. Tuy nhiên, có tới 31,9% đối tượng khảo sát không kể được bất kỳ một loại bệnh nào do phân người gây ra.
- Khoảng cách tri thức rõ rệt theo trình độ học vấn và giới tính: Nam giới có tỷ lệ biết từ 3 bệnh do phân người gây ra cao gấp 1,94 lần so với nữ giới (OR = 1,94; 95%CI: 1,22 - 3,10; p < 0,01). Người có học vấn từ trung học cơ sở trở lên có xác suất biết từ 3 loại nhà tiêu hợp vệ sinh cao gấp 3,04 lần so với người có học vấn từ tiểu học trở xuống (OR = 3,04; 95%CI: 1,74 - 5,31; p < 0,001).
Thảo luận kết quả
Thực trạng 61,0% hộ gia đình không có nhà tiêu tại 5 xã huyện Đà Bắc cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung của các tỉnh phía Bắc (10,8%) và tỉnh Kon Tum (30,8%). Điều này phản ánh rào cản lớn về kinh tế khi tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện năm 2012 chiếm tới 42,53% và thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 1,1 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, tập quán canh tác nông lâm nghiệp trên địa hình đồi núi dốc cùng với phong tục phóng uế trên nương rẫy của các dân tộc Mường, Dao, Tày (chiếm trên 85% dân số) đã tồn tại lâu đời và khó thay đổi trong ngắn hạn.
Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ cột so sánh loại hình nhà tiêu giữa các xã, nhà tiêu dội nước (tự hoại và thấm dội) tập trung chủ yếu ở xã Tu Lý (37,3%) và Hiền Lương (36,6%) nhờ hạ tầng giao thông thuận tiện và nguồn nước dồi dào. Ngược lại, tại xã vùng sâu Tân Minh, tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh chỉ đạt 15,7% do khó khăn về nước dội và chi phí vật liệu vận chuyển cao. Sự chênh lệch hiểu biết bất lợi cho nữ giới (34,6% phụ nữ không kể được tên bệnh so với 26,9% ở nam giới) cho thấy các chương trình truyền thông trước đây chưa tiếp cận sâu sát người phụ nữ – đối tượng trực tiếp chăm sóc vệ sinh gia đình.
Đề xuất và khuyến nghị
- Xây dựng và duy trì mạng lưới truyền thông viên nòng cốt tại thôn bản: Kiện toàn đội ngũ truyền thông viên cơ sở gồm cán bộ y tế thôn bản, đại diện Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên; tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình với tần suất 1 lần/quý nhằm đạt mục tiêu 85% người dân hiểu đúng tác hại của phân người trước quý IV/2015 do Trạm Y tế và Trung tâm Y tế huyện chủ trì.
- Chuyển giao các mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh chi phí thấp: Thiết kế và hướng dẫn người dân ứng dụng 3 mô hình phù hợp địa hình vùng cao gồm nhà tiêu tự hoại cải tiến đúc bằng ống bi, nhà tiêu khô 2 ngăn sinh thái và nhà tiêu khô chìm có ống thông hơi; giúp giảm chi phí xây dựng từ 30% đến 50% so với nhà tiêu gạch truyền thống, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh toàn huyện lên 65% vào năm 2015 do Ủy ban Nhân dân huyện Đà Bắc chỉ đạo.
- Triển khai gói hỗ trợ tài chính vi mô gắn với tiêu chí vệ sinh: Phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội và các hội đoàn thể triển khai nguồn vốn vay ưu đãi lãi suất thấp cho 100% hộ nghèo và cận nghèo có nhu cầu xây mới nhà tiêu, kết hợp mức hỗ trợ tài chính trực tiếp từ 470.000 đến 1.000.000 đồng/hộ sau khi nghiệm thu công trình đạt chuẩn trong giai đoạn 2014 - 2016.
- Thiết lập quy chế giám sát và kiểm tra kỹ thuật định kỳ: Ban hành quy trình kiểm tra vệ sinh 6 tháng/lần do Trạm Y tế xã phối hợp cùng Ban Quản lý Chương trình Nông thôn mới thực hiện, đánh giá nghiêm ngặt theo bảng kiểm QCVN 01:2011/BYT nhằm bảo đảm 100% công trình mới đạt chuẩn đồng thời cả 3 tiêu chí: xây dựng, sử dụng và bảo quản an toàn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cán bộ quản lý y tế dự phòng và sức khỏe môi trường: Tiếp cận bộ công cụ điều tra chuẩn hóa, phương pháp đánh giá thực địa và khung phân tích chỉ số hiệu quả can thiệp truyền thông vệ sinh môi trường tại vùng miền núi.
- Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Tham khảo giải pháp lồng ghép chính sách truyền thông đa ngành nhằm thúc đẩy hoàn thành tiêu chí số 17 về môi trường trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới.
- Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Ứng dụng bài học thực tế về tiếp thị vệ sinh (Sanitation Marketing) và phương pháp tiếp cận dựa trên cộng đồng để thiết kế các dự án nước sạch, vệ sinh môi trường bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.
- Học viên cao học, sinh viên ngành Môi trường và Y tế Công cộng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp nghiên cứu can thiệp cộng đồng, xử lý dữ liệu dịch tễ học và kỹ thuật phân tích thống kê định lượng trên phần mềm Epi-Info.
Câu hỏi thường gặp
Quy chuẩn nào quy định điều kiện bảo đảm vệ sinh đối với nhà tiêu tại Việt Nam?
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2011/BYT do Bộ Y tế ban hành quy định chi tiết các yêu cầu kỹ thuật vệ sinh đối với 6 loại nhà tiêu hợp vệ sinh: nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu Biogas, nhà tiêu khô 2 ngăn, nhà tiêu khô 1 ngăn và nhà tiêu khô chìm có ống thông hơi.
Tại sao tỷ lệ hộ không có nhà tiêu tại 5 xã huyện Đà Bắc lại chiếm tới 61,0%?
Thực trạng này bắt nguồn từ 3 yếu tố chính: điều kiện kinh tế khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo chiếm 42,53%, địa hình núi cao hiểm trở gây thiếu nước dội, cùng tập quán phóng uế ngoài nương rẫy lâu đời chưa được xóa bỏ do thiếu các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe thường xuyên.
Nhà tiêu khô hai ngăn cải tiến có ưu điểm gì đối với các xã vùng núi khó khăn?
Nhà tiêu khô hai ngăn không cần sử dụng nước dội, chi phí xây dựng thấp và dễ bảo quản. Khi ủ phân đúng quy trình kỹ thuật đủ 6 tháng trở lên, nhiệt độ lên men tự nhiên sẽ tiêu diệt hoàn toàn mầm bệnh, biến chất thải thành nguồn phân bón hữu cơ an toàn cho cây trồng.
Giải pháp truyền thông nào mang lại hiệu quả cao nhất tại địa bàn nghiên cứu?
Truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình kết hợp thảo luận nhóm do cán bộ y tế thôn bản và Hội Phụ nữ thực hiện là kênh hiệu quả nhất. Phương pháp này giúp tư vấn cụ thể từng mẫu nhà tiêu phù hợp với khả năng tài chính của từng hộ dân, vượt qua rào cản ngôn ngữ và tập quán sinh hoạt.
Tại sao cần đặc biệt chú trọng truyền thông vệ sinh cho nhóm đối tượng phụ nữ?
Nghiên cứu cho thấy phụ nữ có tỷ lệ hiểu biết về bệnh do phân người thấp hơn nam giới (nam giới cao hơn 1,94 lần). Trong khi đó, phụ nữ lại là người trực tiếp chăm lo ăn uống, vệ sinh cho trẻ nhỏ và quản lý nguồn nước trong gia đình, quyết định lớn đến sự thay đổi hành vi vệ sinh bền vững.
Kết luận
- Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng vệ sinh môi trường tại 5 xã huyện Đà Bắc năm 2013 với 61,0% hộ gia đình chưa có nhà tiêu và chỉ 29,9% hộ sở hữu nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh.
- Xác lập bằng chứng khoa học về mối liên quan chặt chẽ giữa học vấn (OR = 3,04) và giới tính (OR = 1,94) đối với mức độ hiểu biết về nhà tiêu hợp vệ sinh và các bệnh truyền nhiễm từ phân người.
- Đóng góp nổi bật của luận văn là xây dựng thành công quy trình can thiệp truyền thông đa kênh dựa vào cộng đồng, kết hợp tư vấn kỹ thuật xây dựng nhà tiêu chi phí thấp phù hợp với vùng cao.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ về truyền thông, kỹ thuật, tài chính và giám sát nhằm nâng cao tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh đạt mục tiêu 65% trong giai đoạn 2014 - 2020.
- Hãy chung tay nâng cao nhận thức, xóa bỏ tập quán phóng uế bừa bãi và đầu tư xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh để bảo vệ sức khỏe gia đình và xây dựng môi trường nông thôn văn minh.