MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cao Mã Pờ là một xã miền núi, vùng cao, là nơi sinh sống của nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào dân tộc: Dao, Mông, Hán trong đó dân tộc Dao chiến khoảng 60% dân số tại địa bàn xã. Cao Mã Pờ được đánh giá là xã còn nhiều khó khăn nhất của huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang. Tỷ lệ hộ nghèo trên của xã tuy có giảm nhưng vẫn chưa bền vững, còn có nguy cơ tái nghèo cao, người dân chưa có ý thức vươn lên làm giàu, tính chủ động giảm nghèo của người dân chưa cao, tỷ lệ số hộ nghèo vẫn còn cao. Trong vòng 3 năm 2019, 2020 và 2021 qua, tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo của toàn xã đã giảm từ 58,74% trong năm 2019, là năm đầu tiên bắt đầu triển khai chương trình giảm nghèo tại địa phương, giảm xuống chỉ còn 55,83% ở năm 2020 và đến năm 2021 xuống chỉ còn 52,65%.
Năm 2021 tổng số hộ dân tộc thiểu số có số hộ cận nghèo và nghèo của xã Cao Mã Pờ là 192 hộ trên tổng số 275 hộ cư dân của toàn xã. Tỷ lệ số hộ cận nghèo và nghèo đạt bình quân là 18,8%, tỷ lệ giảm 5,19% so với năm 2020, giảm đến 6,09% so với năm 2019. Nhóm dân tộc Dao có tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo 67,72%, Hán (35,58%). Thu nhập bình quân trong 3 năm nghiên cứu của các hộ đã điều tra đạt trung bình 3 triệu đồng/khẩu/năm, tính trung bình thì mỗi khẩu một tháng chỉ có mức thu nhập đạt 0,250 triệu đồng.
Tiêu chí thu nhập của các hộ dân tộc thiểu số tại Xã Cao Mã Pờ còn thấp hơn rất nhiều tuy có giống với mức chuẩn nghèo đang được áp dụng ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Hà Giang (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội). Trên địa bàn còn tồn tại tình trạng thiếu việc làm cho người dân, đời sống nhân dân trên địa bàn nhìn chung còn tồn tại rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm đó là do Xã có vị trí địa lý thuộc miền núi 2 vùng cao, nền KT - XH còn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế phát triển chậm và có điểm xuất phát ở mức thấp và có qui mô nền kinh tế nhỏ. Hơn nữa một phần trong đó cũng là do ảnh hưởng từ phong tục tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, người dân vẫn chưa quen với phương thức sản xuất hàng hóa.
Đời sống văn hóa, xã hội vẫn còn tồn tại những tập tục nặng nề, trình độ dân trí còn ở mức thấp, khả năng trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn rất ít và tồn tại nhiều hạn chế, nên chưa thể tạo được mức đột phá trong sự phát triển kinh tế địa phương. Ngoài ra, trong công tác quản lý nhà nước về mục tiêu giảm nghèo, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành có lúc, có nơi vẫn chưa được sâu sắc. Năng lực tổ chức thực hiện đối với các chủ trương, Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về chương trình giảm nghèo còn tồn tại nhiều hạn chế, một số chỉ tiêu do khảo sát, kế hoạch, thiết kế và đánh giá chưa thực sự sát với thực tiễn dẫn đến một số chỉ tiêu không đạt theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2021- 2025 đã đề ra. Công tác quy hoạch, kế hoạch, xây dựng thực hiện đối với các đề án, các kế hoạch, chương trình còn chưa thực sự sát với thực tiễn.
Các cán bộ thực hiện chương trình vẫn còn biểu hiện lúng túng, bị động, thiếu chủ động trong quá trình triển khai thực hiện. Vì vậy việc thực hiện đối với đề tài: “Giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao trên địa bàn xã Cao Mã Pờ huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang” là rất cần thiết, góp phần thực hiện tốt hơn chương trình giảm nghèo bền vững tại địa phương.2 Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá kết quả trong công tác giảm nghèo đối với đồng bào dân Dao tại Xã Cao Mã Pờ, huyện Quảng Bạ, tỉnh Hà Giang; - Đánh giá đúng về mức thu nhập của các hộ gia đình dân tộc Dao đang sinh sống trên địa bàn xã Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. 3 - Phân tích những hạn chế, yếu kém vẫn còn tồn tại về chương trình giảm nghèo đang thực hiện tại xã Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. - Đề xuất được một số giải pháp cụ thể, thực tế nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giảm nghèo cho người dân tộc Dao trên địa bàn Xã Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài Các dữ liệu có trong đề tài đều có liên quan đến công tác thực hiện giảm nghèo như: mức độ đối với công tác quản lý của nhà nước trong công tác giảm nghèo, thực hiện tốt nhiệm vụ đối với sự phát triển nền kinh tế - xã hội tại địa phương, thực hiện tốt nhiệm vụ trong quá trình thực hiện giảm nghèo bền vững đối với các hộ nghèo, cận nghèo đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp có thể góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giảm nghèo đối với địa phương, góp phần trong chương trình giảm nghèo bền vững đối với các hộ đồng bào dân tộc Dao ở địa phương và phát triển nền kinh tế- xã hội ở xã Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm thuật ngữ 2. Nghèo Hiện nay có nhiều quan niệm về đói nghèo.
Quan niệm về nghèo đói được các tổ chức kinh tế và chuyên gia quốc tế đã đưa ra những định nghĩa cơ bản nhất như sau: - Sự nghèo khổ của con người: con người bị thiếu hoặc mất đi các quyền trong những quyền cơ bản của một con người như biết đọc, biết viết,. - Sự nghèo khổ, thiếu thốn về tiền tệ: bị thiếu mất đi nguồn thu nhập tối thiểu và khả năng chi tiêu thích đáng tối thiểu đối với một con người. - Sự nghèo khổ ở mức độ chung: Mức độ nghèo khổ ở mức độ kém nghiêm trọng hơn và đã được xác định nhưng không có đủ các khả năng nhằm thỏa mãn đáp ứng về những nhu cầu cơ bản chủ yếu cho cuộc sống hàng ngày, trong những nhu cầu cơ bản này đôi khi lại được xác định khác nhau ở mức độ so sánh với nước này với nước khác. Trên đây chính là định nghĩa chung nhất về vấn đề nghèo, những định nghĩa mở, dễ hiểu, có mang các tính chất hướng dẫn đối với các phương pháp đánh giá, nhận biết đúng với các nét chính đặc trưng và phổ biến về quan niệm nghèo.
Từ những khái niệm chung này, trong khi tham gia quá trình nghiên cứu về thực trạng nghèo đói, thường người ta đã chỉ ra được hai khái niệm hoàn toàn khác nhau về vấn đề nghèo, đó là khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. - Nghèo tuyệt đối: được hiểu đơn giản là sự thiếu hụt của một con người so với một mức sống và nhu cầu tối thiểu của một con người trong xã 5 hội. Nghèo tuyệt đối thường chỉ được dùng để tính dựa trên những mức nhu cầu về dinh dưỡng và một số mặt hàng, hàng hóa khác của một con người, do vậy nên đối với một người thuộc nghèo tuyệt đối vẫn được dùng để thực hiện so sánh với các mức độ về nghèo đói khác. - Nghèo tương đối: được hiểu là sự thiếu hụt về mặt kinh tế của các cá nhân/hộ gia đình so với một mức sống trung bình đạt được trong một quốc gia khi được đề cập đến.
Sự thiếu hụt trong nền kinh tế này được các cấp chính quyền công nhận qua những kết quả trong quá trình thực hiện điều tra, quá trình điều tra đều dựa trên cơ sở của một tỷ lệ nào đó so với mức thu nhập bình quân của dân cư có trong một quốc gia. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững Vậy định nghĩa về giảm nghèo là gì? Giảm nghèo là cách thức để người nghèo có thể vận dụng tối đa với các nguồn lực sẵn có, vật lực của Nhà nước, của xã hội. Mục đích vận dụng các nguồn lực nhằm triển khai những kế hoạch thực hiện tốt đối với các chương trình, dự án với mục đích nhằm tác động tới các đối tượng được hướng tới, cụ thể hơn là những người thuộc diện hộ nghèo hay xã nghèo. Các chương trình, dự án với mục đích nhằm giúp cho những người nghèo có thể nâng cao được chất lượng của cuộc sống, cải thiện được những khó khăn vướng mắc trong cuộc sống, tạo ra cơ hội tốt hơn cho những người nghèo có được nguồn thu nhập, có thể tiếp cận được đối với các dịch vụ của xã hội, đảm bảo tính ổn định và đầy đủ đối với các nhu cầu sống cơ bản của một con người.
Giảm nghèo bền vững là gì? Nghèo bền vững thì cho tới hiện nay vẫn chưa có nhà nghiên cứu, một tổ chức nào có thể thống nhất được về vấn đề giảm nghèo bền vững hay là vấn 6 đề giảm nghèo theo hướng bền vững là gì. Tuy nhiên, bên cạnh đó các vấn đề trong quá trình giảm nghèo vẫn luôn được nhà nghiên cứu, các tổ chức đề cập đến khi nhắc đến các khái niệm về phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững. Tái nghèo: hiện tượng tái nghèo là hiện tượng những hộ dân trong quá trình giảm nghèo đã được thoát nghèo nhưng vì do một số nguyên nhân ảnh hưởng nào đó hộ dân lại bị nghèo quay trở lại vì đã không còn khả năng tự duy trì, đáp ứng, ứng phó với những bất lợi có thể sảy ra, những khó khăn ảnh hưởng gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Trên thực tế cho ta thấy, mặc dù tỷ lệ số hộ nghèo vẫn đang giảm xuống liên tục, nhưng về mặt chất lượng thì có thể dễ nhận thấy rằng nhìn chung thì đại bộ phận nhân dân ở các vùng nông thôn, vùng núi, nhất là đồng bào thuộc dân tộc thiểu số đều có một mức thu nhập cực kỳ thấp, thu nhập của họ chỉ đạt trên mức chuẩn nghèo.