CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1. Các thành tựu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu LLL. Các thành tyn nước ngoài Những nghiên cứu liên quan tớ vẫn để xói 16 bờ sông, bồi lắng lòng dẫn như: xác định rõ nguyên nhân, cơ chế, xác định quy luật diễn biến lòng dẫn, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phòng chồng giảm nhẹ thiệt hại do x6i lở bờ, bồi lắng lòng din gây ra, đều là các lĩnh vực khoa học đông lực học dòng sông, chuyển động bùn cát và chỉnh trị sông, Trên thé giới khoa học về động lực đồng sông, được phát triển mạnh trong nữa thé ky thứ XIX ở các nước Âu Mỹ. Những nghiên cứu của các nhà khoa học Pháp như Du Boys về chuyên động bùn cát, Barré de Saint - Venant về dong không dn định, L.
Fargue về hình thái sông uốn khúc vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng cho đến ngày nay. Vào những năm đầu thế kỷ XX, với những đóng góp lớn của các nhà khoa học Xô Viết, những tên tuổi gắn liền với các thành tựu khoa học lớn là. về tinh én định của lòng sông; của Bernadski N. động hai chiều; của Makkavéep V.
về dong thứ cấp; của Velikanôp M. về quá trình diễn bi lòng sông của Gôntrarôp V.N, và Lévi LI., về chuyểi động bùn cát, của Altunin S/T. về chinh trị sông,. Chính trong thời gian đó đã nô ra những cuộc tranh luận gay git giữa lý thuyết khuếch tán và lý thuyết trong lực, giữa hai trường phái ngược nhau khi đánh giá tổn thất năng lượng trong dòng chảy có và không.
mang bùn cát, giữa các chỉ tiêu khởi động của bùn cát và giữa các chỉ tiêu én định của lòng dẫn. Tham gia gián tiếp vào các cuộc tranh luận đó, từ những năm 50 đến giữa những năm 60, có các nhà khoa học Trung Quốc như Trương Thụy Cin, Tiền Ninh, Tạ Giám Hoành, Đậu Quốc Nhân, Sa Ngọc Thanh,. Trong thời gian này, ở Tây Âu có những công trình về chuyển động bùn cát của E, Meyer Peter và Muller; về hình thai lòng sông én định có các nhà khoa học Anh Kennedy R. với "Lý thuyết chế độ" (Regime theory) nỗi tiếng.
Các nhà khoa học Mỹ như Einstein H., Ven-te-Chow, Ning-chien,. có nhiều công trình nghiên cứu vé dòng chảy và chuyển động bùn cát Tir những năm 60 thé kỷ XX đến nay, do ứng dụng những tiễn bộ khoa học kỹ thuật và đặc biệt là những tiến bộ trong kỹ thuật tính toán, động lực học dòng sông có những bước phát triển mới, sâu sắc trong việc hoàn thiện mô hình hoá các hiện tượng thủy lực phức tạp. Một số mô hình tan, mô. phỏng dòng chảy hai chiều 2D, ba chiều 3D, mô phỏng quá trình diễn biế lông din như Mike 11, Mike 21 và Mike 21C cho kết quả tính tan dòng chảy, dự báo biến hình lòng dẫn khá chính xác.
Về nghiên cứu thực địa đã có. những thiết bị đo đạc hiện đại, nhanh chóng, chính xác. Có thể nhân được trường vận tốc dong chảy ở độ sâu khác nhau, xác định được độ sâu lòng dẫn cùng với tọa độ địa lý mong muốn. Việc khảo sát đường đi của hạt bùn cát bằng chất đồng vị phóng xạ khi nghiên cứu boi lắng lòng dẫn tại các ving cửa sông cũng đạt được một kết quả.
Nghiên cứu biến hình lòng hình vật lý đã có những tiền bộ vượt bậc đã thực hiện được những tương tự khó, trên cơ sở xây dựng mô hình lòng động với các chất liệu mô phỏng bùn cát đáy, bùn cát lơ lửng bằng vat liệu mới đảm bảo độ chính xác cao. Ngòai ra trong mấy thập niên gần đây các nhà khoa học đã úng dụng GIS vào việc nghiên cứu dự báo biển hình ngang lòng dẫn, Bén cạnh những tên tui mới xuất hiện như Cunge J. đã xuất hiện những công trình của tập thé tác giả hoặc tên của một cơ quan nghiên cứu như Bureau of Reclamation (Mỹ), SOGREAN (Pháp), VNIIG (Liên Xô), DELFT (Hà Lan), DHI (Đan Mach), Ð. [6] 'Về công trình trình chinh trị sông đã có bước tiền khá ấn tượng trong những năm gần đây, đặc biệt vào thời kỳ công nghệ mới vật liệu mới phát triển, những công trình chính trị sông không còn năng né, phức tạp như trước đây.
VỀ kết cấu đã gọn nhẹ hơn nhưng hiệu quả hơn như hệ dàn phao hướng, dang thay cho kẻ mô hin, thảm bê tông bơm trực tgp trong nước thay cho t tre, rọ di, 1. Các thành tựu trong mước © Việt Nam, nghiên cứu động lực học dòng sông được bắt đầu vào cuối những năm 60 thé kỷ trước vi ông trình phòng chống lũ lụt, giao thông, thủy và chống bồi lắng cửa lấy nước tưới ruộng trên các sông miễn Bắc. nghiên cứu ban đầu thường được tiến hành trong các phòng thí nghiệm của Viện Khoa học Thủy lợi, Viện Thiết kế Giao thông Vận tai, Trường Đại học Xay dựng, Trường Đại học Thủy lợi. Cách day vài chục năm, các nghiên cứu trên mô hình toán mới được phát triển, với sự tham gia của các nhà khoa học thuộc Viện Cơ học Việt Nam, Viện Khí tượng Thủy văn,.
Những vá để của in động lực học đồng sông và chỉnh trị sông cũng được đưa vào dé tải trong các chương trình trọng điểm cấp nhà nước. Những nghiên cứu về dòng chảy sông ngồi, nồi bật có các công trình về chuyển động không én định của Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Cảnh Cầm, Nguyễn Như Khuê, Nguyễn An Niên, Lương Phương Hậu và sau này là Nguyễn Văn Điệp, Trinh Quang Hoà, Nguyễn Tit Đắc. Những nghiên cứu về chuyển động bin cát có các công trình của Lưu Công Đào, Vi Văn Vị, Hoàng Hữu Văn, Võ Phán. Trong giai đoạn 1970 đến 2001, xuất hiện nhiều công trình nghiên c ứu về diễn biến lòng sông và chỉnh trị sông.
Các vẫn đề của các sông ving đồng bằng Bắc bộ xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu của Vũ Tắt Uyên, Lương Phương Hậu, Nguyên Văn Toán, Trần Xuân Thái, Trịnh Việt An, Trần Dinh Hợi, Tôn Thất Vĩnh, Nguyễn Văn Phúc. Các vấn đề của các sông ving ĐBSCL được Lê Ngọc Bích, Luong Phương Hậu, Nguyễn Ân Niên, Nguyễn Sinh Huy, Lê Mạnh Hùng, Hoang Văn Huân, Lê Xuân Thuyén,. ngi nhiều trong mười năm gần đây, các vấn để sông ngồi miễn Trung có các nghiên cứu của Ngô Đình Tuấn, Đỗ Tắt Tac, Nguyễn Bá Quy, Lương Phương Hậu, Trịnh Việt An, Nguyễn Văn Tuần, Lê Mạnh Hùng.6] Hiện nay, nhà nước đang đầu tư các cơ sở nghiên cứu thí nghiệm chuyên sâu như phỏng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực sông biển, phòng thí nghiệm phòng chống thiên tai Hoà Lạc, phòng thí nghiệm Đông lực và Chinh trị sông của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, lại Bình Duong, VE nhân lực, một lực lượng cán bộ khoa học trẻ được đảo tạo trong nước và ngoài nước, đã nắm bắt được một số thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến trên thé giới, chắc chắn sẽ có những đóng góp tích cực cho sự phát triển ngành khoa học động lực học dòng sông và chỉnh trị sông ở nước ta, 1. Giới thiệu ehung về các giải pháp bảo vệ bờ sông, bừ biển ở ĐBSCL.
Nhâm giải pháp phi công trình. Đây là giải pháp mang tính xã hội cao, kết hợp các hoạt động nắm bắt thông tin, theo đối, dự báo nguy cơ sat lở bờ, cảnh báo kịp thời từ các c quản lý tới nhân dân trước nguy cơ của thiên nhiên dé kịp thời phòng tránh. Các giải pháp thường được áp dụng như: ~_ Tiến hành theo đõi sat lở theo định ky về quy mô, cường độ, biên độ, hướng dịch chuyển kết hợp đo đạc đánh giá bắt thường với các tình huống. Xây ra + Xây dựng cơ sở dữ liệu số, cập nhật và thông tin, lưu trữ bằng máy tính theo năm, tháng, ngày, giờ.
Kết nỗi mạng thông tin giữa các cắp cơ quan quản lý với các cơ quan nghiên cứu khoa học và cộng đồng nhân din nhằm cập nhật thông tin và có những quyết định ứng xử kịp thời, phủ hợp, + Tổ chức xây dựng các kịch bản ứng cứu, lực lượng ứng cứu, phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất chủ động, bảo vệ an toàn cho nhân dân khi có sự cố xây ra ~_ Điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cắp tinh, huyện, xã. cấp mức độ sat lở dé bố trí các khu dân cư, công trình dân sinh. Tổ chức di đời dan ra khỏi khu vực nguy hiểm theo các hình thức di đời vĩnh theo quy hoạch, di đời tạm thời khi có cảnh báo và khẩn cắp khi gặp sự cố. Tắt các các bước thực hiện trên chỉ thực hiện tốt khi có sự hiểu biết và đồng thuận của nhân dân.
Sự tham gia của cộng đồng với những kinh nghiệm sống của cư dan ven sông, ven bién, tuyên truyền cho họ hiểu về nguy cơ và tác hại của sat lở bờ từ đó họ sẽ dua ra quyết định ứng cứu khi có thông tin cảnh báo của các cấp quản lý. Với chỉ phí tổ chức thấp giải pháp phi công trình là sự lựa chọn đầu tiên cho phòng chồng giảm nhẹ thiên tai, nhưng trước những diễn biến phức tạp của tình hình sat lở bờ, nếu cứ dé tự nhiên thì xu. hướng mắt đắt, mắt nhà, ngày đêm đe dọa tính mạng của nhân dân vẫn sẽ tiếp. tục diễn ra.
Khi buộc phải di đời dân sẽ lâm thay đổi tập quan sinh hoại, thay đổi cơ cầu ngành nghề. Vi vậy phải có giải pháp phòng tránh, bảo vệ tại chỗ đảm bảo cảnh quan môi trường bằng cách kết hợp giải pháp phi công trình và công trình bảo vệ ba. Nhóm giải pháp công trình 1. Công trình đân giam Công trình đơn gián (còn gọi là công trình dân gian) là những công trình bảo vệ bờ sông được xây dựng một cách đơn giản bằng các loại vật liệu sẵn có ở địa phương.
Các công trình dân gian có thể phân loại như sau: «a, Trang cây chồng sóng bảo vệ bờ Các loại cây trồng dé bảo vệ bờ gồm có bèo tây (lục bình), dừa nước, ẳn,.(xem hình 1-2) “Trồng cây dừa nước ở dọc sông Tiền, Trồng có Vetiver bảo vệ bờ Kênh Bay, tỉnh Vĩnh Long tỉnh An Giang, Béo tây kết hợp cây chống sóng bảo Tring lá dira nước bảo vệ bở, bảo vệ dé vệ bờ ở tỉnh Tiên Giang ‘bao ở tinh Bến Tre Hình 1-1: Trồng cây chống sóng, chống xói, gây bồi bảo vệ bờ ở ĐBSCL. (Nguồn Viện KHTL Miễn Nam) Loại hình này được ứng dụng rộng rầi dọc theo hệ thống sông ở ĐBSCL. Các dạng cây này thường trồng nhiều nhất ở các vùng cửa sông, trong các sông, kênh rạch nhỏ, ở còn (củ lao), bãi dọc các cửa sông. Bảo vệ bờ bằng phên liép, cọc cit gỗ.