Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của tổ chức quốc tế vào năm 1992, tại các vùng nông thôn của những quốc gia đang phát triển, nguồn lâm sản ngoài gỗ cung cấp từ 90% đến 93% các sản phẩm lương thực và thực phẩm thiết yếu cho đời sống hàng ngày của người dân bản địa. Tại Việt Nam, hệ thực vật tự nhiên vô cùng phong phú nhưng nguồn tài nguyên cây ăn được vẫn chưa được điều tra và quy hoạch khai thác một cách tương xứng với tiềm năng. Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha thuộc tỉnh Sơn La có tổng diện tích tự nhiên 16.316,8 ha, sở hữu tính đa dạng sinh học cao cùng hệ thống rừng đặc dụng giàu giá trị nguồn gen. Tuy nhiên, toàn bộ khu vực 5 xã vùng đệm chỉ có 406 ha ruộng nước trên tổng số 4.117 ha đất nông nghiệp, dẫn đến mức bình quân đất lúa nước chỉ đạt 0,02 ha/người/năm. Thực trạng thiếu hụt diện tích canh tác lúa nước cùng tập quán du canh du cư, đốt nương làm rẫy (bình quân 0,22 ha đất nương/người/năm) đã tạo áp lực khai thác nặng nề lên các loài cây ăn được trong tự nhiên.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng danh lục khoa học, đánh giá cấu trúc đa dạng của các loài thực vật có giá trị lương thực thực phẩm, tìm hiểu tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số và đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững nguồn tài nguyên này. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trọng tâm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, trải dài trên địa bàn các xã Chiềng Sơn, Lóng Sập và Tân Xuân thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, tập trung vào toàn bộ ngành thực vật bậc cao có mạch có giá trị ăn được trong giai đoạn năm 2012 đến năm 2013. Luận văn đã xác lập cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác với 246 loài thực vật ăn được, mở ra hướng đi bền vững trong việc nâng cao sinh kế cho hơn 5.420 nhân khẩu và bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái rừng đặc dụng vùng Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Thực vật dân tộc học trong việc phân loại và đánh giá vai trò của thực vật đối với đời sống cộng đồng cư dân vùng cao. Cùng với đó là khung lý thuyết về phân loại tài nguyên thực vật nhiệt đới và lý thuyết phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ theo định hướng chiến lược quốc gia giai đoạn 2006 - 2020. Nghiên cứu tập trung vào 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi bao gồm: Cây lương thực thực phẩm tự nhiên, Tri thức sử dụng bản địa, Tính đa dạng bậc taxon, Cấu trúc dạng sống sinh thái, và Giải pháp bảo tồn nội vi kết hợp bảo tồn chuyển chỗ.

Hệ thống đánh giá mức độ quý hiếm và nguy cấp của các loài được đối chiếu nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn học thuật và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, bao gồm: Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 (Phần II - Thực vật), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, và Danh lục Đỏ thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN phiên bản 2012. Tên khoa học của các loài, chi và họ thực vật được chuẩn hóa đồng bộ theo quy định của Bộ luật Quốc tế về Danh pháp Thực vật Tokyo năm 1994 và Danh lục các loài thực vật Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống bản đồ địa hình tỷ lệ chuẩn VN 2000, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, kết hợp với các đợt điều tra thực địa ngoại nghiệp trên diện rộng. Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 9 tuyến điều tra đại diện cắt qua toàn bộ các sinh cảnh và kiểu rừng chính tại 3 xã trọng điểm: xã Chiềng Sơn (3 tuyến), xã Lóng Sập (2 tuyến) và xã Tân Xuân (4 tuyến), trải rộng từ độ cao 260 m lên đến 1.886 m tại đỉnh Pha Luông. Phương pháp chọn mẫu theo tuyến được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện sinh cảnh tối ưu, bao quát toàn diện các hệ sinh thái núi đá vôi karst, núi đất và thung lũng ven suối.

Song song với điều tra sinh học, nghiên cứu sử dụng phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) với cỡ mẫu phỏng vấn sâu trực tiếp tại 45 hộ gia đình thuộc 3 cộng đồng dân tộc Thái, H’Mông và Khơ Mú, kết hợp tham vấn chuyên sâu đội ngũ cán bộ kiểm lâm và ban quản lý khu bảo tồn. Phương pháp phân tích định lượng trên phần mềm thống kê kết hợp với kỹ thuật giám định hình thái tiêu bản tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Việt Nam được lựa chọn vì tính chính xác khoa học cao, giúp phản ánh chân thực mối quan hệ giữa cấu trúc hệ thực vật và tập quán khai thác thực tế của người dân bản địa. Toàn bộ quy trình thu thập mẫu và phân tích số liệu được triển khai chặt chẽ từ năm 2012 đến tháng 3 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã phát hiện và lập danh lục chi tiết 246 loài thực vật bậc cao có mạch có giá trị lương thực thực phẩm, thuộc 185 chi và 81 họ, phân bố trong 3 ngành thực vật chính. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 242 loài (chiếm 98,4% tổng số loài), 182 chi (chiếm 98,4% tổng số chi) và 78 họ (chiếm 96,3% tổng số họ). Trong đó, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm 206 loài (83,7%), lớp Hành (Liliopsida) chiếm 36 loài (14,7%). Hai ngành còn lại là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Thông (Pinophyta) chỉ ghi nhận mỗi ngành 2 loài (chiếm 0,8% mỗi ngành).

Về cấu trúc họ và chi, họ Cúc (Asteraceae) dẫn đầu về độ phong phú với 23 loài (chiếm 9,3%), tiếp đến là họ Hòa thảo (Poaceae) với 14 loài (chiếm 5,7%), họ Dâu tằm (Moraceae) với 11 loài (chiếm 4,5%) và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 9 loài (chiếm 3,7%). Tổng cộng 10 họ giàu loài nhất đã quy tụ tới 97 loài, chiếm 39,4% toàn bộ khu hệ cây ăn được. Ở cấp độ chi, hai chi Canarium và Syzygium có độ đa dạng cao nhất với 5 loài mỗi chi (chiếm 4,1%), theo sau là các chi Artemisia, Begonia, Castanopsis, Dioscorea và Ficus với 4 loài mỗi chi (chiếm 8,1%).

Phân tích theo nhóm công dụng cho thấy nhóm cây làm rau ăn chiếm tỷ trọng áp đảo với 122 loài (chiếm 49,59%), kế tiếp là nhóm cây cho quả ăn được với 75 loài (chiếm 30,5%), nhóm cây làm gia vị có 29 loài (chiếm 11,79%), nhóm cây cho nước uống có 26 loài (chiếm 10,57%), nhóm cây cho tinh bột có 25 loài (chiếm 10,16%) và nhóm cây dùng để nhai có 4 loài (chiếm 1,63%). Xét về dạng sống, cây thân thảo và cây thân gỗ chiếm tỷ lệ cao nhất với cùng 89 loài mỗi dạng sống (chiếm 36,18%), cây bụi chiếm 25 loài (chiếm 10,16%), phần còn lại thuộc các dạng dây leo và tre nứa.

Nghiên cứu đặc biệt ghi nhận 12 loài cây lương thực thực phẩm quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen cấp thiết. Theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, có 2 loài thuộc cấp sẽ nguy cấp (VU) là Rau sắng (Melientha suavis) và Đảng sâm (Codonopsis javanica). Theo Danh lục Đỏ IUCN năm 2012, có 10 loài được ghi nhận, gồm 2 loài cấp VU (Đảng sâm, Sa nhân lớn), 1 loài cấp gần bị đe dọa NT (Óc chó - Juglans regia) và 7 loài thuộc cấp ít lo ngại LC (như Muỗm, Hoa ban, Vang, Trắc dây, Rau mác, Cỏ nến lá hẹp, Sa nhân).

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với các khu bảo tồn và vườn quốc gia khác tại Việt Nam, tính đa dạng của cây ăn được tại Xuân Nha thể hiện những ưu thế vượt trội. Mặc dù diện tích bảo tồn của Xuân Nha (16.316,8 ha) nhỏ hơn Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu (17.963,9 ha) và Vườn quốc gia Hoàng Liên (51.245 ha), số lượng loài cây lương thực thực phẩm ghi nhận tại Xuân Nha (246 loài) cao gấp đúng 2 lần so với Tà Kóu (123 loài) và phong phú hơn Vườn quốc gia Xuân Sơn (123 loài). Sự vượt trội này bắt nguồn từ cấu trúc địa hình chia cắt phức tạp với nhiều đai cao và hệ vi khí hậu nhiệt đới gió mùa độc đáo của vùng núi đá vôi Tây Bắc.

Toàn bộ các tập dữ liệu định lượng của luận văn được cấu trúc trực quan thông qua 16 bảng biểu thống kê phân loại và 2 biểu đồ tỷ lệ. Biểu đồ hình tròn biểu diễn tỷ lệ phần trăm số loài của các họ thực vật phản ánh rõ sự tập trung của các loài thực vật ưa sáng, thân thảo như họ Cúc và Hòa thảo tại các sinh cảnh nương rẫy cũ và trảng cây bụi. Bên cạnh đó, các bảng đối sánh ma trận sinh cảnh và lịch thu hái 12 tháng minh chứng rằng nguồn thực phẩm tự nhiên được người dân khai thác rải rác quanh năm nhưng đạt đỉnh điểm vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái mật độ cá thể của các loài có giá trị cao là do áp lực tăng dân số tự nhiên tại 5 xã vùng đệm (dao động từ 2,4% đến 3,4%), tình trạng thiếu đất lúa nước dẫn đến canh tác nương rẫy xâm lấn rừng và kỹ thuật thu hái mang tính tận diệt như chặt cành, bẻ ngọn cây ăn quả tự nhiên để bán ra thị trường tự do.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phân vùng quy hoạch và siết chặt công tác bảo tồn nguyên vị (In-situ). Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha phối hợp với Hạt Kiểm lâm Mộc Châu cần củng cố các trạm kiểm soát tại 5 bản thuộc vùng lõi xã Tân Xuân. Mục tiêu cụ thể là giảm 85% các vụ khai thác thương mại trái phép các loài cây ăn được quý hiếm như Rau sắng và Đảng sâm, hoàn thành việc cắm mốc ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt trong vòng 24 tháng tới.

Thứ hai, triển khai chương trình nhân giống và bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ) kết hợp mô hình nông lâm kết hợp. Trạm Khuyến nông huyện Mộc Châu kết hợp cùng chính quyền 3 xã Chiềng Sơn, Lóng Sập, Tân Xuân tổ chức xây dựng 3 vườn ươm giống bản địa. Lựa chọn 16 loài cây lương thực thực phẩm có giá trị kinh tế cao (như Sa nhân, Rau sắng, Bương, Mắc khén, Giổi) để chuyển giao kỹ thuật gieo ươm, phấn đấu đưa vào trồng phân tán trong vườn rừng và nương rẫy với quy mô tối thiểu 50 ha trong giai đoạn 3 năm.

Thứ ba, thương mại hóa bền vững và nâng cao chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ. Ủy ban nhân dân huyện Mộc Châu chủ trì kết nối các hợp tác xã nông nghiệp với các doanh nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu. Cần chuẩn hóa nhãn hiệu hàng hóa xuất xứ địa phương cho các sản phẩm đặc trưng, đặt chỉ tiêu tăng thu nhập bình quân từ khai thác bền vững từ 30% đến 40% cho hơn 1.200 hộ dân bản địa đến năm 2025.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông cộng đồng và lồng ghép tri thức bản địa vào quy chế hương ước thôn bản. Ban quản lý khu bảo tồn cùng các già làng, trưởng bản người Thái, H’Mông, Khơ Mú tổ chức 15 khóa tập huấn kỹ năng thu hái tái sinh, phấn đấu đạt 100% số bản ký cam kết bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật rừng ăn được trong thời hạn 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ quản lý lâm nghiệp, kiểm lâm và Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng gồm 246 loài cây ăn được để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp.

Nhóm 2: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Thực vật học. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra thực địa trên 9 tuyến mẫu kết hợp kỹ thuật đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA).

Nhóm 3: Chính quyền địa phương và cán bộ khuyến nông các huyện miền núi phía Bắc. Công trình cung cấp danh mục 16 loài cây tiềm năng có thể đưa ngay vào cơ cấu cây trồng nông lâm kết hợp, giải quyết bài toán thiếu hụt đất sản xuất (0,02 ha lúa nước/người) và tạo sinh kế xóa đói giảm nghèo.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các dự án phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học. Báo cáo cung cấp bức tranh chân thực về tri thức bản địa của 3 dân tộc Thái, H’Mông, Khơ Mú, hỗ trợ thiết kế các chương trình tài trợ sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã thống kê được bao nhiêu loài cây có giá trị lương thực thực phẩm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha? Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 246 loài thuộc 185 chi và 81 họ trong 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 242 loài (chiếm 98,4%), lớp Ngọc lan có 206 loài và lớp Hành có 36 loài.

Những loài cây lương thực thực phẩm quý hiếm nào được phát hiện trong khu vực nghiên cứu? Luận văn đã xác định 12 loài quý hiếm có giá trị bảo tồn cao. Nổi bật có 2 loài thuộc cấp Sẽ nguy cấp (VU) theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 gồm Rau sắng và Đảng sâm, cùng 10 loài nằm trong Danh lục Đỏ IUCN 2012 như Sa nhân lớn, Óc chó và Vang.

Nhóm công dụng nào của thực vật ăn được chiếm số lượng lớn nhất tại Xuân Nha? Nhóm cây làm rau ăn chiếm tỷ trọng cao nhất với 122 loài (chiếm 49,59%), tiếp theo là nhóm cây ăn quả với 75 loài (chiếm 30,5%) và nhóm cây gia vị với 29 loài (chiếm 11,79%). Nhóm cây cho bột đường và nước uống lần lượt có 25 và 26 loài.

Phương pháp nghiên cứu thực địa của tác giả được thiết kế như thế nào để đảm bảo tính chính xác? Tác giả đã thiết lập 9 tuyến điều tra ngoại nghiệp cắt ngang qua các kiểu sinh cảnh từ độ cao 260 m đến 1.886 m tại 3 xã trọng điểm. Đồng thời, phỏng vấn chuyên sâu 45 hộ dân thuộc 3 dân tộc bản địa bằng phương pháp PRA và giám định tiêu bản theo chuẩn quốc tế.

Những loài cây nào được đề xuất ưu tiên gây trồng để phát triển kinh tế cho người dân địa phương? Luận văn đã tuyển chọn 16 loài cây có tiềm năng thương mại cao để đưa vào mô hình gây trồng bán tự nhiên, tiêu biểu như Rau sắng, Đảng sâm, Sa nhân, Giổi và Mắc khén, nhằm mục tiêu nâng thu nhập cộng đồng thêm 30% đến 40%.

Kết luận

  • Công trình đã xây dựng thành công bộ danh lục khoa học hoàn chỉnh gồm 246 loài cây có giá trị lương thực thực phẩm thuộc 185 chi, 81 họ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha.
  • Xác định được 12 loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN cần được ưu tiên bảo vệ nguồn gen nghiêm ngặt.
  • Làm rõ cấu trúc phân loại với ưu thế áp đảo của ngành Ngọc lan (98,4%) cùng hai nhóm công dụng chủ lực là cây làm rau ăn (49,59%) và cây ăn quả (30,5%).
  • Đánh giá sâu sắc tập quán sử dụng của đồng bào Thái, H’Mông, Khơ Mú trong bối cảnh áp lực dân số và quỹ đất lúa nước hạn chế (0,02 ha/người/năm).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện kết hợp bảo tồn nội vi, chuyển giao kỹ thuật gây trồng 16 loài triển vọng và xây dựng chuỗi giá trị nông lâm kết hợp.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên rừng đặc dụng gắn liền với bảo tồn tri thức bản địa. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp phát triển sinh kế cần đẩy mạnh ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này vào các quy hoạch bảo tồn và dự án nông lâm nghiệp tại vùng Tây Bắc giai đoạn tới.