Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò thuộc tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên 6.462,2 ha, trong đó đất lâm nghiệp có rừng chiếm tới 4.850,1 ha với địa hình núi đá vôi hiểm trở, độ cao dao động từ 200 m đến 1.526 m. Nơi đây lưu giữ nguồn tài nguyên thực vật phong phú cùng kho tàng tri thức bản địa quý giá của 11.188 người dân thuộc 4 dân tộc chính gồm H'Mông, Mường, Thái và Dao. Tuy nhiên, tình trạng khai thác tự phát quá mức cùng áp lực kinh tế khi tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương vượt mức 30% đã khiến thảm thực vật dược liệu suy thoái nghiêm trọng, đặt ra bài toán cấp bách về quản trị tài nguyên rừng bền vững.

Đề tài nghiên cứu của học viên Trịnh Xuân Huy, chuyên ngành Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại Trường Đại học Lâm nghiệp, được triển khai từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013 nhằm đánh giá toàn diện tính đa dạng của hệ cây thuốc và thực trạng sử dụng dược liệu tại khu vực. Mục tiêu cụ thể là điều tra, lập danh lục khoa học các loài thực vật làm thuốc, phân tích đặc điểm sinh thái, đánh giá nguy cơ đe dọa tuyệt chủng và thử nghiệm nhân giống nguồn gen quý. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc xác lập cơ sở dữ liệu với 508 loài cây thuốc, làm tiền đề giúp cơ quan quản lý giảm thiểu 40% đến 50% nguy cơ cạn kiệt dược liệu quý hiếm, đồng thời nâng cao thu nhập cho hơn 2.320 hộ dân thông qua định hướng phát triển chuỗi giá trị cây thuốc bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Thực vật dân tộc học kết hợp lý thuyết Bảo tồn sinh học cảnh quan và Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng. Mô hình nghiên cứu tích hợp đa tầng giữa cấu trúc quần xã thực vật, tri thức y học dân gian và động thái kinh tế - xã hội địa phương. Trong đó, nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm nền tảng:

  • Tài nguyên cây thuốc: Toàn bộ các loài thực vật bậc cao có mạch chứa hoạt chất sinh học được ứng dụng trong phòng ngừa và chữa trị bệnh tật.
  • Tri thức bản địa: Hệ thống kinh nghiệm, bài thuốc gia truyền được tích lũy qua nhiều thế hệ của đồng bào các dân tộc thiểu số.
  • Đa dạng sinh học cấp độ loài và taxon: Tỷ lệ phân bố của các bậc phân loại từ ngành, họ, chi đến loài trong một hệ sinh thái cụ thể.
  • Đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân: Cách tiếp cận tương tác trực tiếp nhằm thu thập thông tin định tính và định lượng về khai thác tài nguyên.
  • Bảo tồn chuyển chỗ và bảo tồn tại chỗ: Hai chiến lược then chốt nhằm duy trì quần thể loài trong tự nhiên và nhân giống phát triển nguồn gen trong vườn ươm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo lâm nghiệp và dữ liệu sơ cấp qua 2 chuyến thực địa từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013. Về phương pháp xã hội học, tác giả áp dụng công cụ phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân với cỡ mẫu gồm 6 thầy thuốc, bà mế tiêu biểu như bà Bàn Thị Hoa, ông Bạch Chí Tình cùng hàng chục hộ dân tại 5 xã trọng điểm. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phỏng vấn sâu được lựa chọn vì giúp khai thác triệt để nguồn tri thức bản địa bí truyền mà các phương pháp ngẫu nhiên không tiếp cận được.

Về phương pháp thực địa sinh học, nghiên cứu thiết lập các tuyến điều tra dài từ 3 km đến 5 km chạy qua 5 xã gồm Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn, Bao La, Cun Pheo, khảo sát thảm thực vật trong phạm vi dải đệm 10 m mỗi bên. Mỗi loài cây thuốc đều thu thập từ 5 đến 6 mẫu tiêu bản để phân tích hình thái. Phương pháp giám định chuyên gia tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật kết hợp đối chiếu hệ thống phân loại của Takhtajan và bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam được lựa chọn để đảm bảo tính chuẩn xác tuyệt đối về danh pháp khoa học. Tiêu bản được xử lý bằng dung dịch cồn chứa 0,3% đến 0,5% thủy ngân clorua nhằm bảo quản lâu dài. Đồng thời, tác giả thực hiện thử nghiệm nhân giống vô tính đối với loài Hoàng đằng bằng cách cắt hom 8 đến 10 cm, khử trùng bằng Benlat 0,1% trong 15 phút và xử lý chất điều hòa sinh trưởng Axit indol axetic nồng độ 2.000 ppm trong 15 giây nhằm kiểm chứng khả năng nhân giống phục hồi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác lập 4 phát hiện quan trọng về tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò:

  • Đa dạng thành phần loài vượt trội: Thống kê được 508 loài cây thuốc thuộc 348 chi, 131 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Mặc dù diện tích khu bảo tồn chỉ chiếm 0,19% diện tích cả nước, nhưng số loài cây thuốc chiếm tới 13,20% và số họ chiếm 42,67% tổng hệ cây thuốc Việt Nam.
  • Ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối: Ngành Hạt kín chiếm 482 loài, tương đương 94,88% tổng số loài, trong đó lớp Hai lá mầm chiếm 413 loài (85,68%) và lớp Một lá mầm chiếm 69 loài (14,32%). Các ngành còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ như ngành Dương xỉ với 18 loài (3,54%), ngành Thông đất 4 loài (0,79%), ngành Hạt trần 3 loài (0,60%) và ngành Cỏ tháp bút 1 loài (0,20%).
  • Tập trung cao ở các họ và chi ưu thế: Có 5 họ giàu loài nhất (chiếm từ 16 đến 37 loài mỗi họ) tập hợp 118 loài, chiếm 23,23% toàn hệ, dẫn đầu là họ Ba mảnh vỏ với 37 loài, họ Cúc 26 loài, họ Cà phê 22 loài. Ở cấp độ chi, 13 chi có từ 4 loài trở lên đã chiếm 67 loài (13,19%), tiêu biểu như chi Sung vả với 10 loài và chi Cà với 7 loài.
  • Hiện diện nguồn dược liệu quý hiếm nguy cấp: Ghi nhận 22 loài cây thuốc quý hiếm (chiếm 4,13% tổng số loài) nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Danh lục đỏ IUCN 2011, bao gồm Hoàng đằng, Củ dòm, Kim tuyến đá vôi, Bảy lá một hoa, Thông đỏ lá ngắn, Đảng sâm và Ba gạc.

Thảo luận kết quả

Sự phân bố phong phú này bắt nguồn từ điều kiện địa chất núi đá vôi xen kẽ núi đất cùng khí hậu á nhiệt đới có lượng mưa từ 1.700 mm đến 2.000 mm mỗi năm, tạo lập nên các tiểu vi khí hậu đặc trưng. So với nghiên cứu của Đỗ Sĩ Hiến năm 2011 chỉ ghi nhận 405 loài cây thuốc của dân tộc Mường, công trình này đã bổ sung thêm hơn 100 loài nhờ mở rộng điều tra sang cộng đồng người H'Mông và người Dao. Toàn bộ cơ cấu phân bố này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện tương quan số lượng taxon giữa các ngành thực vật và bảng phân loại ma trận 13 nhóm bệnh điều trị.

Tuy nhiên, kết quả điều tra thị trường chỉ ra nghịch lý đáng lo ngại: nguồn dược liệu tự nhiên đang suy giảm nhanh do phương thức thu hái mang tính hủy diệt như đào cả rễ củ hay chặt toàn bộ thân cây. Hơn 40% số loài quý hiếm như Củ dòm, Kim tuyến đá vôi hiện rất khó tìm gặp tại sinh cảnh tự nhiên. Tỷ lệ nhân giống thử nghiệm hom Hoàng đằng xử lý bằng IAA đạt kết quả khả quan, khẳng định tính khả thi của việc ứng dụng công nghệ sinh học vào bảo tồn thực vật rừng.

Đề xuất và khuyến nghị

Để bảo tồn bền vững và phát huy giá trị nguồn tài nguyên dược liệu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Thiết lập vùng bảo vệ nghiêm ngặt và quy chế khai thác bền vững: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên chủ trì phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Hòa Bình khoanh vùng 1.500 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt tại các dông núi đá vôi xã Hang Kia và Pà Cò trong giai đoạn 2014 – 2016. Mục tiêu giảm thiểu 80% tình trạng khai thác trộm và chấm dứt hoàn toàn việc đào bới tận diệt các loài có củ rễ như Củ dòm và Bảy lá một hoa.
  • Xây dựng mô hình vườn ươm và nhân giống cây thuốc bản địa: Ủy ban nhân dân huyện Mai Châu kết hợp với Trường Đại học Lâm nghiệp đầu tư xây dựng 2 vườn ươm giống diện tích 1.000 m2 tại xã Tân Sơn và Cun Pheo trong giai đoạn 2014 – 2018. Ứng dụng quy trình nhân giống vô tính bằng hom cho Hoàng đằng, Đương quy và Đan sâm nhằm cung ứng hơn 50.000 cây giống mỗi năm cho người dân gây trồng dưới tán rừng.
  • Thương mại hóa và phát triển chuỗi giá trị dược liệu cộng đồng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình phối hợp các doanh nghiệp dược phẩm triển khai dự án liên kết sản xuất trong giai đoạn 2015 – 2020. Mục tiêu hình thành 5 hợp tác xã chuyên canh cây thuốc, giúp 600 hộ đồng bào dân tộc tăng thu nhập từ 25% đến 35% mỗi năm từ kinh tế lâm sản ngoài gỗ.
  • Số hóa và bảo tồn tri thức y học dân gian: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình phối hợp cùng Hội Y học cổ truyền hoàn thành việc biên soạn, xuất bản cẩm nang tra cứu điện tử lưu trữ 100% bài thuốc cổ truyền của các ông lang, bà mế trước năm 2017, đồng thời hỗ trợ đăng ký chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm trà dược liệu Hang Kia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý khu bảo tồn và lực lượng kiểm lâm: Sử dụng bộ danh lục 508 loài cây thuốc và danh mục 22 loài quý hiếm để xây dựng phương án tuần tra chuyên biệt, xác định tọa độ phân bố tại 5 xã vùng đệm nhằm tối ưu hóa 100% hiệu suất kiểm soát lâm sản ngoài gỗ.
  • Nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành lâm nghiệp, dược học: Khai thác tài liệu chuyên sâu về phương pháp định danh thực vật học, quy trình nhân giống hom Hoàng đằng với nồng độ IAA 2.000 ppm và dữ liệu phân loại 131 họ thực vật để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.
  • Doanh nghiệp sản xuất dược liệu và thực phẩm chức năng: Nắm bắt thông tin về trữ lượng, dược tính và vùng phân bố của các chi giàu tiềm năng như chi Gừng (15 loài), chi Ba mảnh vỏ (37 loài) để khảo sát vùng nguyên liệu đạt chuẩn chất lượng.
  • Chính quyền địa phương và các tổ chức phát triển cộng đồng: Ứng dụng mô hình sinh kế trồng cây thuốc dưới tán rừng vào chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho hơn 2.300 hộ dân tại vùng đồng bào thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thực vật cây thuốc tại Hang Kia – Pà Cò có điểm gì nổi bật so với cả nước?
Điểm nổi bật nhất là tính đa dạng sinh học rất cao trên diện tích hẹp. Dù chỉ chiếm 0,19% diện tích lãnh thổ, khu bảo tồn quy tụ tới 508 loài cây thuốc, chiếm 13,20% tổng số loài của Việt Nam. Hệ thực vật tại đây đại diện cho 5 trong tổng số 6 ngành thực vật bậc cao có mạch trên cả nước.

Những loài cây thuốc nào có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng cao nhất tại khu vực?
Nghiên cứu ghi nhận 22 loài quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt. Trong đó có các loài nguy cấp cấp bách như Cây bảy lá một hoa, Kim tuyến đá vôi, Thông đỏ lá ngắn, Hoàng đằng và Củ dòm. Những loài này bị đe dọa do giá trị thương phẩm cao và tập quán khai thác tận diệt rễ củ.

Người dân bản địa thường sử dụng cây thuốc để điều trị những nhóm bệnh nào?
Đồng bào các dân tộc phân chia và sử dụng dược liệu điều trị cho 13 nhóm bệnh khác nhau theo y học cổ truyền. Các nhóm bệnh có tần suất dùng nhiều nhất gồm bệnh đau nhức xương khớp, tiêu hóa, phụ khoa và ngoài da. Ví dụ, cây Ba gạc vòng và Biến hóa được dùng phổ biến để trị huyết áp và phong thấp.

Thử nghiệm nhân giống loài Hoàng đằng trong nghiên cứu đạt kết quả ra sao?
Thử nghiệm nhân giống vô tính bằng hom thân Hoàng đằng dài 8 đến 10 cm, khử trùng Benlat 0,1% và xử lý chất điều hòa sinh trưởng IAA nồng độ 2.000 ppm trong 15 giây cho tỷ lệ ra rễ đạt trên 65%. Phương pháp này chứng minh khả năng bảo tồn chuyển chỗ và nhân rộng loài dược liệu nguy cấp.

Làm thế nào để vừa bảo tồn cây thuốc vừa cải thiện sinh kế cho đồng bào thiểu số?
Giải pháp tối ưu là phát triển mô hình trồng dược liệu bản địa dưới tán rừng kết hợp chuyển giao kỹ thuật thu hái tái sinh. Khi chính quyền liên kết doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, hơn 2.320 hộ dân sẽ có thu nhập ổn định tăng 25% đến 35%, từ đó chủ động tham gia bảo vệ rừng thay vì khai thác tự nhiên.

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm kê và hệ thống hóa thành công 508 loài cây thuốc thuộc 348 chi, 131 họ, khẳng định giá trị đa dạng sinh học vượt trội của khu bảo tồn.
  • Xác định 22 loài dược liệu quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, cung cấp dữ liệu khoa học nền tảng cho công tác cứu hộ và bảo tồn nguồn gen quốc gia.
  • Đúc kết kho tàng tri thức bản địa phong phú của 4 dân tộc thiểu số trong việc ứng dụng dược thảo chữa trị 13 nhóm bệnh tật thông thường.
  • Khẳng định tính khả thi của kỹ thuật nhân giống vô tính bằng hom với chất điều hòa IAA 2.000 ppm, mở ra hướng đi bảo tồn chuyển chỗ hiệu quả.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp gắn kết bảo vệ rừng với phát triển chuỗi giá trị kinh tế lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2014 – 2020.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho chiến lược quản lý rừng bền vững và bảo tồn y học dân tộc tại Hòa Bình. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy chung tay xúc tiến giai đoạn nhân rộng mô hình trong năm tới nhằm bảo vệ trọn vẹn di sản dược liệu thiên nhiên quý báu này.