mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Các nhà sinh vật học Nga tập trung nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Takhtajan, Viện sỹ thực vật, Acmenia, đã đóng góp lớn cho khoa học phân loại thực vật, trong cuốn “Diversity and Classification of Flowering Plant” (1997), đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật hạt kín trên thế giới khoảng 260.000 loài vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ, thuộc 16 phân lớp và 2 lớp. Trong đó lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 11 phân lớp, 175 bộ, 458 họ, 10.500 chi không dưới 195.000 loài và lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam đã có từ lâu. Song việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính quy mô lớn ở nước ta mới chỉ bắt đầu vào thời Pháp thuộc. Các công trình nghiên cứu về thực vật có giá trị đều do các tác giả nước ngoài thực hiện như: “Thực vật chí Nam Bộ” của Loureiro (1790), “Thực vật rừng Nam Bộ” của Pierre (1879-1907).
Các nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở việc thống kê và mô tả số lượng loài thực vật ở Việt Nam. Nổi bật hơn cả là công trình “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung, đã được công bố từ năm 1907 tới 1952 bởi nhà thực vật người Pháp Lecomte chủ biên cùng cộng sự. Trong công trình này, các tác giả đã thống kê, mô tả cho 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch của Đông Dương trong đó có Việt Nam. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn đối với các nhà thực vật học, hiện nay bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng.
Tiếp theo phải kể đến là bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam” do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960-2001) cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay đã công bố 31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có. Tuy nhiên con số này còn ít so với số loài thực vật có ở 3 nước Đông Dương. Trên cơ sở bộ thực vật chí đại cương Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi và 289 họ.
Ngành Hạt trần có 39 loài (0,56%), 18 chi (0,97%), 8 họ (2,77%) và còn lại là nhóm Quyết thực vật. Trong ngành Hạt kín thì lớp Hai lá mầm có 4.346 chi (77,94%), 198 họ (82,85%) và lớp Một lá mầm có 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Gần đây, đáng chú ý phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) xuất bản tại Canada, bao gồm 3 tập (6 quyển), đã thống kê, mô tả được 10.419 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Trong 5 năm gần đây (1999-2003), tác giả đã chỉnh lý, bổ sung và tái bản tại Việt Nam.
Bộ sách gồm 3 quyển, đã thống kê mô tả 11.179 chi, 295 họ và 6 ngành. Phan Kế Lộc (1973) “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam”. Tác giả đã thống kê được 5.660 chi và 240 họ (Lê Trần Chấn, 1999). Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể các tác giả đã xuất bản tập “Danh lục Thực vật Tây Nguyên” công bố 3.754 loài thực vật bậc cao có mạch (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004).
Trong công trình “Thực vật ở đảo Phú Quốc” năm 1985, tác giả Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 929 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 112 loài cây trồng, 817 loài có phân bố tự nhiên và ghi nhận thêm 19 loài mới cho Việt Nam, không kể nấm. Năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn cho xuất bản cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật”. Tác giả đã khái quát thành các phương pháp nghiên cứu đa dạng thực vật nói chung cho các vùng và cung cấp một số thông tin về tình hình đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có 10.580 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 2.342 chi, 334 họ, 6 ngành.
Trong đó, ngành Hạt kín có 9.175 chi và 296 họ. Năm 1998, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời cho xuất bản cuốn “Đa dạng thực vật vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan”, đã thống kê được 2.024 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 771 chi, 200 họ và 6 ngành. Năm 1999, trong cuốn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, Lê Trần Chấn đã thống kê được ở Việt Nam có 10.298 chi và 285 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Khuyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lá thông (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 54 loài, 4 chi, 2 họ; ngành Thuỷ phỉ (Isoetophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 632 loài, 138 chi, 28 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 52 loài, 22 chi, 8 họ; ngành Hạt kín có 9.
Gần đây (2001-2005), tập thể các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trên cơ sở tập hợp các mẫu tiêu bản thực vật cùng với các tài liệu đã có, đã xuất bản bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” gồm 3 tập. Bộ sách đã thống kê được đầy đủ nhất các loài thực vật có ở Việt Nam với tên khoa học cập nhật nhất. Trong tài liệu này, đã công bố 11.238 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 2. Trong đó, ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 53 loài, 5 chi, 3 họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 696 loài, 136 chi, 29 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 69 loài, 22 chi, 9 họ; ngành Hạt kín (Angiospermae) có 10.
Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các Vườn Quốc gia (VQG), Khu Bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam cho đến đến nay đã có nhiều công trình. Điển hình phải kể tới các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Bá Thụ ở VQG Cúc Phương (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Thanh Nhàn ở VQG Pù Mát (2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở VQG Bạch Mã (2003), Lê Thị Huyên ở VQG Cát Bà (1998), Trần Minh Hợi ở VQG Xuân Sơn (2005). Năm 1995, trong Luận án Phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp với đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Cúc Phương” tác giả Nguyễn Bá Thụ đã thống kê được trên diện tích 222 km2 có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.944 loài thực vật bậc cao thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ của 7 ngành thực vật bậc cao và đã bổ sung thêm 270 loài thực vật cho hệ thực vật Cúc Phương so với danh lục thực vật năm 1971. Trong số đó có 127 loài, 74 chi, 31 họ thuộc ngành Rêu (Bryophyta).
Đồng thời tác giả đã phân tích khá đầy đủ sự đa dạng về dạng sống, yếu tố địa lý, thành phần cũng như cấu trúc rừng. Nghiên cứu thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha Các nghiên cứu về thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha còn rất ít. Năm 2003, Trung tâm Thực nghiệm và Phát triển rừng thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp đã tiến hành nghiên cứu khả thi lập dự án điều chỉnh, bổ sung đầu tư xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha tỉnh Sơn La. Tác giả Nguyễn Văn Huy - Trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra báo cáo chuyên đề “Đặc điểm tài nguyên thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”.
Báo cáo chỉ ra 6 kiểu thảm thực vật trong Khu bảo tồn gồm: - Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp gồm: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp bị tác động nhẹ trên sườn và đỉnh núi thấp; rừng kín thường xanh bị tác động nhẹ trên sườn đỉnh núi đá vôi; rừng thưa trên sườn, đỉnh núi đá; rừng thứ sinh phục hồi sau cháy rừng và nương rẫy; rừng thứ sinh nghèo kiệt sau khai thác. - Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim á nhiệt đới núi thấp. Trong đó có kiểu phụ rừng kín cây lá rộng, lá kim ẩm ôn đới núi vừa (ở độ cao 1. - Kiểu rừng trồng: Chủ yếu là các loài Tre luồng và cây ăn quả.
- Kiểu trảng cây bụi, cỏ cao gồm: trảng cây bụi nguyên sinh trên núi đá và trảng cây bụi thứ sinh trên núi đá, núi đất. - Kiểu trảng cỏ cây bụi thấp. - Kiểu cây trồng nương rẫy, đồng ruộng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Năm 2012, được sự hỗ trợ của Dự án Phát triển Lâm nghiệp Hòa Bình, Sơn La (KFW7), Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học đã thực hiện điều tra đánh giá đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Xuân Nha.
Tác giả Lê Trần Chấn đã đưa ra kết quả như sau: - Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha có các kiểu thảm thực vật phân bố trên 3 vành đai độ cao: + Vành đai nhiệt đới <700m có các kiểu rừng thứ sinh nhân tác phục hồi sau nương rẫy, trảng cây bụi, tre nứa, trảng cỏ. + Vành đai á nhiệt đới độ cao từ 700-1.600m có các kiểu thảm rừng kín lá rộng thường xanh, rừng kín lá rộng thường xanh á nhiệt đới ẩm bị tác động ít hoặc nhiều, trảng cây bụi, tre nứa, trảng cỏ. + Vành đai ôn đới từ 1.600m trở lên có các kiểu thảm rừng kín hỗn giao cây lá rộng lá kim thường xanh ôn đới ẩm, trảng cây bụi, tre nứa, trảng cỏ. Ngoài ra, còn có thảm cây trồng nông nghiệp, cây công nghiệp (dài và ngắn ngày), cây trồng lâm nghiệp, cây ăn quả… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Hệ thực vật bậc cao tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La. - Nguyên nhân gây suy giảm tính đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha.