CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC Thuật ngữ Đa dạng sinh học (ĐDSH) (Biodiversity) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong hai bài viết của Lovejoy, Norse và McManus. Lovejoy làm việc cho Quỹ bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF), Lovejoy cho rằng ĐDSH hay đa dạng sự sống được xác định trước hết bằng tổng số các loài sinh vật đang tồn tại hiện nay.
Còn Norse và McManus là hai nhà sinh thái học, khi đề cập tới ĐDSH toàn cầu có đưa ra hai khái niệm liên quan là đa dạng gen (genetic diversity) và đa dạng sinh thái (ecological diversity) (Lovejoy, 1980; Norse & McManus, 1980). Từ đó đến nay, định nghĩa ĐDSH và các nội dung liên quan đến ĐDSH đã được thảo luận một cách rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về ĐDSH đã được đưa ra: Quỹ bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF (1990) quan niệm:"ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường". Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ là: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005).
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc - FAO: "ĐDSH là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái". Theo đó, ĐDSH được tổ chức ở nhiều cấp độ, từ các hệ sinh thái phức tạp đến các cấu trúc hóa học là cơ sở phân tử của vật chất di truyền. Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, các gen khác nhau và sự phong phú tương đối của chúng (dẫn theo Lê Trọng Cúc, 2002). Theo công ước ĐDSH - CBD (1992) thì "ĐDSH là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái nước khác, sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái".
ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền và đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng các hệ sinh thái). Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài, những biến dị bên trong hoặc giữa các quần thể. Đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê. Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó (dẫn theo Phạm Bình Quyền và Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002).
Theo hiệp hội Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) đã đưa ra định nghĩa ĐDSH như sau:"ĐDSH là thuật ngữ chỉ sự phong phú của sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ sinh thái mà chúng là thành viên. Từ đó, ĐDSH được định nghĩa là sự đa dạng của các sinh vật từ tất cả các nguồn, trong đó bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, dưới biển, các thủy vực và các phức hệ sinh thái mà chúng cấu thành. ĐDSH bao gồm sự đa dạng của loài, giữa các loài và các hệ sinh thái" (IUCN, 1994). Sự đa dạng về sinh học hay sự ĐDSH nói một cách ngắn gọn chính là sự đa dạng của sự sống trên trái đất.
Khái niệm bao gồm các loài thực vật, động vật và vi sinh vật trên cạn, ở sông hồ và biển. ĐDSH gồm 3 mức độ: loài, hệ sinh thái và thông tin di truyền/nguồn gen (dẫn theo Markus Schmidt et al. Tóm lại, ĐDSH là khoa học nghiên cứu về tính đa dạng của vật sống trong tự nhiên, từ các sinh vật phân cắt đến các động vật và thực vật (trên cạn cũng như dưới nước) và cả loài người chúng ta, từ mức độ phân tử đến các cơ thể, các loài và các quần xã mà chúng ta sống. ĐDSH gồm đa dạng về di truyền, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái.
ĐDSH có vai trò sống còn đối với trái đất. ĐDSH có nhiều giá trị to lớn tập trung vào 3 nhóm: giá trị kinh tế, giá trị xã hội - nhân văn, giá trị tài nguyên và môi trường. Về giá trị kinh tế, ĐDSH là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm hầu như là duy nhất cho con người. ĐDSH còn là nguồn cung cấp nhiều loại nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến.
Theo tính toán của các nhà khoa học trên thế giới, hằng năm ĐDSH cung cấp cho loài người một lượng sản phẩm có giá trị là 33.000 tỷ USD (Costanza et al. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giá trị xã hội - nhân văn của ĐDSH là những giá trị không thể thay thế được đối với cuộc sống của con người. Tính phong phú, vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên cung cấp cho con người giá trị thẩm mỹ, đem lại cho con người sự thư thái bình yên và lòng yêu quê hương, đất nước, đặc biệt là tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống. Giá trị tài nguyên và môi trường của ĐDSH được thể hiện ở vai trò duy trì cân bằng sinh học, cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường, là chức năng tự nhiên không thể thay thế được.
Các loài sinh vật tự dưỡng (chủ yếu là thực vật) thông qua quá trình quang hợp đã chuyển hóa các chất vô cơ thành hữu cơ, tạo nên nguồn chất hữu cơ duy nhất trên trái đất nuôi sống muôn loài sinh vật, trong đó có con người. Các loài sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân hủy chuyển hóa các chất hữu cơ thành vô cơ, làm khép kín chu trình chuyển hóa vật chất trên trái đất. Chuyển hóa vật chất cùng với trao đổi năng lượng, trao đổi thông tin là động lực duy trì sự tồn tại và phát triển của sự sống, sự tiến hóa của muôn loài. Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế đã gây nên nhiều tác động to lớn và sâu sắc lên ĐDSH.
Cùng với những nhận thức chưa đầy đủ, sự thiếu hiểu biết, thiếu quan tâm đến bảo vệ và phát triển của ĐDSH, đã góp phần làm cho ĐDSH bị suy thoái, các chức năng sinh thái bị nhiễu loạn, con người sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của thiên tai như hạn hán, lốc, lũ quét, lũ ống, xói mòn, ô nhiễm,… (dẫn theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005). Nhận thức được điều đó, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã và đang chung tay bảo vệ ĐDSH, thể hiện bằng việc cùng nhau tham gia vào nhiều công ước quốc tế về ĐDSH như: công ước ĐDSH (có khoảng hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia); công ước Ramsar về các cùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của chim nước (với khoảng 140 nước tham gia); công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã đang bị nguy cấp;… Bên cạnh đó, nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức đánh giá, bảo tồn và phát triển sinh vật trên phạm vi toàn cầu như: Hiệp hội Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (IUCN); Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (WWF); Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP); Viện tài nguyên Di truyền Quốc tế (IPGRI),… 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam được đánh giá là quốc gia giàu có về ĐDSH, được xếp thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật, được công nhận là một trong các quốc gia cần được ưu tiên cho bảo tồn ĐDSH toàn cầu. Chính vì vậy công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam có vai trò rất quan trọng. Để hiện thực hóa điều đó, Việt Nam tham gia tích cực các Hiệp ước Quốc tế về ĐDSH và nỗ lực thực hiện nghiêm túc các hiệp ước sau khi kí kết như công ước Ramsar, công ước ĐDSH, công ước CITES,… Bên cạnh đó từ những năm 60 của thế kỉ trước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách bảo vệ các khu rừng nguyên sinh, cho đến nay đã có một hệ thống các khu bảo tồn được thành lập trên khắp cả nước.
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác bảo vệ, bảo tồn ĐDSH gắn với phát triển kinh tế - xã hội và nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật được triển khai thực hiện trên thực tế. Nhiều chiến lược có liên quan đã được xây dựng, bao gồm Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2003); Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 (Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2007); Chiến lược Quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2014a); Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2014b); Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến 2020, tầm nhìn đến 2030 (Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2012),… Một hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993, sửa đổi năm 2005), Luật Tài nguyên nước (1999), Luật ĐDSH (2008), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (ban hành năm 1991, sửa đổi năm 2005) và Luật Biển (2015). Đặc biệt là, Luật ĐDSH về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH đã nhấn mạnh sử dụng bền vững hệ sinh thái tự nhiên, các loài sinh vật và tài nguyên di truyền, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội,… (dẫn theo Võ Thanh Sơn, 2015). Thêm vào đó, tháng 7 năm 2013, Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã chính thức được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trở thành định hướng mới cho công tác bảo tồn đa dạng; hướng tới nền kinh tế xanh và ứng phó với biến 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.