mở đầu cho thời kỳ mới trong Phân loại học, đó là thời kỳ phân loại tiến hóa hay phân loại hệ thống sinh. Đến những năm 60 của thế kỷ 20, Schmitthusen (1959) thống kê ở Châu Âu có hai hệ thống phân loại thảm thực vật. chủ yếu, đó là: hệ thống phân loại quần xã thực vật của Braun – Branquet, 1928) phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật chủ yếu được thực hiện bởi những nhà thực vật của Đức. Sucasốp, là người đặt nền móng cho quan niệm sinh địa quần lạc, một cách tiếp cận hệ sinh thái của trường phái xô viết, ông chủ trương dùng đơn vị phân loại cơ bản của quần lạc thực vật là quần hợp để xác định ranh giới giữa các kiểu quần lạc sinh địa, vì nó có khả năng phản ánh điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của quần lạc ` 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh địa đó.
Chính học thuyết này đã có tác dụng phục vụ thiết thực cho công tác kinh doanh rừng ở các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ trước đây. [37] Ở Mỹ, phân loại thảm thực vật chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của Cơlêmăng. Climax là một quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu. Khí hậu là nhân tố để xác định Climax.
Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978, 1999), Schimper là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới [32,33]. Trong hệ thống phân loại này, ông đã chia ra thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần thể thổ nhưỡng và quần thể vùng núi. Trong quần hệ khi hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: kiểu rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai. Ngoài ra còn có thêm 2 kiểu rừng là thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới.
Năm 1903, dựa trên dạng sống của các cá thể thực vật chiếm ưu thế trong quần thể, ông đã phân chia 3 kiểu quần thụ, quần thảo và hoang mạc. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về thực vật được tiến hành bởi các hiệp hội bảo tồn, các tổ chức phi chính phủ. Nổi bật và đáng chú ý nhất là Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992, 150 nước đã ký vào Công ước về đa dạng sinh vật. Để phục vụ cho mục đích bảo tồn, WWF (1990) đã cho xuất bản cuốn sách “Tầm quan trọng của đa dạng sinh vật” (The importance of biological diversity); IUCN, UNEP, WWF đưa ra “Chiến lược bảo tồn toàn cầu” (World conservation strategy, 1990), “Hãy quan tâm tới trái đất “(Caring for the earth, 1991) 1.
Những nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam kéo dài từ 8030’ Bắc đến 230 Nam, cùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và sự khác biệt về địa hình giữa các vùng miền đã tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học. Điều này mang lại cho Việt Nam sự đa dạng về các hệ sinh thái, bao gồm các HST trên cạn, HST đất ngập nước, HST biển. Chính vì thế, công tác đánh giá, phân loại tính đa dạng thực vật ở Việt Nam đã được tiến hành từ rất sớm. Trong sử sách có ghi chép nhiều thầy thuốc, nhà địa lý, nhà khoa học, nhà quân sự đã thống kê, sử dụng nhiều loại cây cối.
Có thể kể đến một số tác giả như: Tuệ Tĩnh, năm 1417 đã viết cuốn “Nam dược thần hiệu” trong đó ` 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mô tả tới 579 loài cây làm thuốc. Lê Quí Ðôn (thế kỷ XVI) trong bộ “Vân đài loại ngữ” đã phân chia thực vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cho quả, ngũ cốc, rau, cây loại mộc, loại thảo, cây mọc theo các mùa khác nhau. Nguyễn Trữ (đời nhà Lê) đã nghiên cứu sâu hơn về thực vật và viết tác phẩm “Việt Nam thực vật học” mô tả được rất nhiều cây. Năm 1595 Lý Thời Chân cho xuất bản cuốn “Bản thảo cương mục” trong đó có đề cập tới trên 1000 vị thuốc thảo mộc.
Trong thời kỳ thuộc Pháp, tài nguyên thực vật phong phú ở nước ta đã hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu phương Tây. Họ đã để lại một số công ttrình, như: “Thực vật ở Nam Bộ” (1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây. “Thực vật rừng Nam Bộ” (1879) của Pierre cũng mô tả gần 800 loài cây gỗ. Công trình lớn nhất là bộ “Thực vật chí tổng quát Ðông Dương” do H.Lecomte và một số nhà thực vật học người Pháp biên soạn (từ 1907 đến 1943) gồm 7 tập chính và sau lại bổ sung thêm bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, mô tả thống kê các cây từ Dương xỉ tới thực vật Hạt kín của toàn Ðông Dương.
Ngoài ra còn phải kể một số sách khác như: “Danh mục các sản phẩm của Ðông Dương” của Crévost, Lemarié và Pételot, “Các cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” của Pételot, “Các cây thuốc của miền Bắc Việt Nam” của Foucaud… Từ 1954 tới nay, việc nghiên cứu về thực vật được đẩy mạnh và phát triển nhanh chóng do yêu cầu của công tác điều tra tài nguyên thực vật. Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng là bảng phân loại do Cục Điều tra quy hoạch rừng xây dựng dựa trên đề xuất phân loại của Loschau. Theo đó, rừng được chia làm 4 loại hình: -Loại I: gồm những đất hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần gây trồng rừng. -Loại II: gồm những rừng non, cần khoanh nuôi hay làm giàu.
-Loại III: gồm những loại rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt, cần nuôi dưỡng làm giàu. -Loại IV: những rừng còn bị ít tác động hay chưa bị tác động. Tiếp đó, năm 1970, Trần Ngũ Phương đã đưa ra bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam. Bảng phân loại chia rừng miền Bắc thành ba đai lớn : - Đai rừng nhiệt đới mưa mùa; - Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; - Đai rừng á nhiệt đới mưa mù núi cao.
` 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công trình nghiên cứu phân loại của Trần Ngũ Phương cho thấy các kiểu rừng khí hậu, kiểu phụ thổ nhưỡng, kiểu phụ thứ sinh đều là các kiểu rừng hỗn loại đa dạng, phức tạp với nhiều loài cây, loài ưu thế không rõ.Trừ những trường hợp đất đai đặc biệt (lầy mặn, cát) chỉ số ít loài sinh sống được mới mới tạo nên ưu thế rõ rệt. Bên cạnh các nghiên cứu về phân loại thực vật thì cũng có một hướng nghiên cứu trong thực vật học là về cấu trúc rừng tự nhiên ở nước ta. Sở dĩ như vậy là do rừng tự nhiên Việt Nam thuộc kiểu rừng nhiệt đới, rất phong phú về thành phần loài và phức tạp về cấu trúc do sự đa dạng về các yếu tố địa lý. Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt của David – Risa đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng, như tâng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng có quyết.
Theo đó thì tầng cây bụi và thảm tươi được phóng với tỷ lệ lớn hơn. Ngoài ra tác giả còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt nam, đó là: dạng sống ưu thế của những thực vật tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái của tán lá [37]. Căn cứ vào những cơ sở lí luận trên, ông đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật có trên đất lâm nghiệp như sau [15]: - Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; - Kiểu rừng rụng lá ẩm nhiệt đới; - Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới; - Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới; - Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; - Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới; - Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới; - Kiểu truông bụi cây gai hạn nhiệt đới; - Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; - Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp; - Kiểu rừng kín cây lá kim mưa ẩm ôn đới; - Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp; - Kiểu rừng khô vùng cao; - Kiểu rừng lạnh vùng cao. ` 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đáng chú ý là phải nhắc đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) [17] xuất bản ở Canada, sau đó được Nhà xuất bản Trẻ chỉnh lý, bổ sung và tái bản phát hành ở Việt Nam năm 2000.
Đây là bộ sách được đánh giá là đầy đủ, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam. Trong bộ sách này tác giả đã thống kê mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam. Tiếp đó, năm 1996, tập thể các nhà khoa học đã cho xuất bản cuốn “Sách đỏ Việt Nam”, bao gồm danh sách các loài động, thực vật ở Việt Nam thuộc loài quý hiếm, đang bị giảm sút số lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng với phần thực vật có 356 loài nằm trong danh mục. Phiên bản mới nhất hiện nay là “Sách đỏ Việt Nam năm 2007”.
Theo số liệu này hiện nay Việt Nam có thêm 464 loài thực vật đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 110 loài so với năm 1996. Ngoài “Sách đỏ Việt Nam”, VIện Khoa học và Công nghệ Việt Nam còn hoàn thành việc soạn thảo “Danh lục đỏ Việt Nam” vào năm 2007. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) cho rằng nước ta có khoảng 11,373 loài thực vật thuộc 2,524 chi và 378 họ của 7 ngành. Tính trung bình mỗi họ có 6,67 chi và 30,0 loài.
Trong đó có nhiều nhóm thực vật mang tính đặc hữu cũng như giá trị khoa học và thực tiễn lớn. Các nhà phân loại học thực vật dự đoán rằng, nếu điều tra tỉ mỉ thì thành phần loài thực vật Việt Nam có thể lên tới 15. Thành phần loài trong các ngành thực vật Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) Ngành Số lượng Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Chi Loài 1. Khuyết lá thông Psilotophyta 1 1 2 3.
Thông đất Lycopodiophyta 3 5 57 4. Cỏ tháp bút Equisetophyta 1 1 2 5.