mở đầu cho nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. [27] cho rằng “chỉ cần điêu tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm đƣợc sự phong phú của nơi sống nhƣng không có sự phân hóa về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Tolmachop A. đã đƣa ra một nhận định là số loài của hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thƣờng là từ 1500 – 2000 loài.
Các nhà sinh vật Nga tập trung nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Brummitt (1992) [28], chuyên gia của phòng bảo tàng thực vật Hoàng gia Anh, trong cuốn “ Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là Khuyết lá 6 Thông (Psilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dƣơng xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiosperamae). Trong đó, ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 chi, 454 họ và đƣợc chia ra 2 lớp là: Hai lá mầm (Dicotyledonneace) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và lớp Một lá mầm (Monocotyledonneace) có 2. Theo hƣớng thống kê và nghiên cứu thì có các công trình nhƣ: Thực vật chí Đông Dƣơng của Lecomte và cộng sự (1907 – 1952); Thực vật chí Malaisia (1948 -1952); Thực vật chí Vân Nam ( 1979 – 1997).
Tại Việt Nam Việt Nam là nƣớc có mức độ đa dạng sinh học cao và các nghiên cứu về hệ thực vật cũng có từ lâu. Một số tác giả tiên phong trong nghiên cứu thực vật nhƣ: Tuệ Tĩnh ( 1417) [3] trong cuốn “ Nam dƣợc thần hiệu” đã mô tả tới 579 loài cây làm thuốc, Lý Thời Chân ( 1595) [4] đề cập đến hơn 1000 vị thuốc thảo mộc trong cuốn “ Bản thảo cƣơng mục”,. Các công trình nghiên cứu về hệ thực vật tại Việt Nam phải kể đến “Thực vật chí Nam Bộ” của Leureiro [29]. Một công trình lớn về quy mô cũng nhƣ giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dƣơng của tác giả Pháp Lecomte et al.
[30] kết quả nghiên cứu này là bộ “ Thực vật chí đại cƣơng Đông Dƣơng” theo kết quả nghiên cứu của Lecomte thì có hơn 7. Bộ sách này có giá trị rất lớn đối với các nhà thực vật học, những ngƣời nghiên cứu thực vật Đông Dƣơng và hệ thực vật Việt Nam. Sau đó, Humbert H [31] đã bổ sung và xuất bản từ 1960 về hệ thực vật Lào, Việt Nam và Campuchia, tại Việt Nam thì đã có đến tập 26. Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dƣơng, Thái Văn Trừng (1963-1978) [5] trong công trình “ Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ.
Ngành Hạt kín có 6366 loài, 1727 chi, 239 họ. Ngành Hạt trần có 39 loài, 18 chi, 8 họ còn lại là nhóm Quyết thực vật 7 Theo công trình nghiên cứu “Bƣớc đầu nghiên cứu rừng miền Bắc” của Trần Ngũ Phƣơng [6] về phân loại rừng miền Bắc Việt Nam thì rừng miền Bắc Việt Nam đƣợc chia thành 3 đai, 8 kiểu, ngoài ra còn có các kiểu hình phụ. Ở miền Bắc theo công trình nghiên cứu “Bƣớc đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam” về thực vật bậc cao của Phan Kế Lộc [ 7] thì có 5.609 loài còn các ngành khác có 540 loài. Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể các tác giả khác đã xuất bản tập “ Danh lục thực vật Tây Nguyên” [8] công bố 3.754 loài thực vật bậc cao có mạch bằng một nửa số loài hệ thực vật Việt Nam.
Công trình nghiên cứu “Cây cỏ Nam Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ [9] công bố với 5.326 loài thực vật ở Miền Nam. Trong đó, thực vật bậc thấp có 60 loài, rêu 20 loài, còn lại là thực vật có mạch là 5. Năm 1991 – 1993, bộ Cây cỏ Việt Nam xuất bản tại Canada với 3 tập, 6 quyển đã thống kê mô tả đƣợc 10.419 loài thực vật bậc cao có mạch tại Việt Nam. Trong 2 năm 1999 – 2000, tác giả đã chỉnh lý, bổ sung và tái bản tại Việt Nam, bộ sách bao gồm 3 quyển, thống kê và mô tả 11.179 chi, 259 họ và 6 ngành.
Công trình “1900 loài cây có ích của Việt Nam” của Trần Đình Lý năm 1997 [10] công bố 1900 loài, gần 1000 chi, 230 họ là công trình có giá trị rất lớn và là tài liệu đầu tiên giới thiệu khái quát về nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam một cách hệ thống và có dẫn liệu về tên khoa học Cuốn “ Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam” của tác giả Trần Hợp năm 2002 [11],đã đề cập đến những thông tin chung về thực vật thân gỗ. Theo tác giả thì thực vật thân gỗ có thân chính phát triển cao luôn có vai trò là sinh vật “lập quần” để kiến tạo ra các quần xã thực vật đa dạng về tổ thành và cấu trúc. Cũng theo tác giả, tài nguyên thực vật ử Việt Nam tập trung vào 2 ngành tiến hóa nhất là Ngành thực vật hạt trần và Ngành thực vật hạt kín. Các loài trong Ngành thực vật hạt trần đƣợc các nhà kinh doanh, làm nghề rừng gọi là “ Nhóm gỗ mềm” hay “ Cây lá kim”, còn gỗ trong Ngành thực vật hạt kín đƣợc gọi là “Nhóm gỗ cứng” hay nhóm “Cây lá rộng”.
Tác giả cũng đã thống kê kể cả nhóm cây cây bụi, dây leo thân gỗ và tre trúc, dƣơng xỉ thân gỗ thì số loài thực vật thân gỗ ở 8 Việt Nam có thể lên đến 2. Tác giả đã mô tả đƣợc 1.500 loài thực vật có thân hóa gỗ, thuộc 152 loài phân bố tự nhiên và một số loài nhập nội ở Việt Nam. Cuốn “ Tên cây rừng Việt Nam” của BNN và PTNT năm 2000 [12], là tài liệu tra cứu dùng cho ngƣời đọc trong và ngoài nƣớc có nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu cây rừng Việt Nam. Nếu biết tên Việt Nam của một loài cây có thể tra cứu tên khoa học, họ thực vật và các thông tin về dạng sống, phân bố và công dụng của loài cây đó.
Ngƣợc lại, nếu biết tên khoa học của một loài cây rừng cũng có thể tra cứu ra tên Việt Nam thƣờng dùng, các tên khác và các thông tin về loài. Ngoài ra, cuốn sách còn giúp ngƣời đọc tìm hiểu tên thƣơng phẩm của một số loại gỗ và lâm sản khác của Việt Nam. Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các Vƣờn quốc gia ( VQG), Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) của Việt Nam cho đến nay có rất nhiều công trình. Trong đó điển hình là các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Bá Thụ ở VQG Cúc Phƣơng (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Thanh Nhàn ở VQG Pù Mát (2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở VQG Bạch Mã (2003), Lê Thị Huyên ở VQG Cát Bà ( 1998), Nguyễn Văn Thanh ở VQG Xuân Sơn.
Tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò Đối với các nghiên cứu về hệ thực vật tại KBTTN thì theo kết quả điều tra và thống kê hệ thực vật Hang Kia – Pà Cò của ThS. Phùng Văn Phê [13], Giảng viên Khoa Lâm học (Trƣờng Đại học Lâm nghiệp) đƣợc thực hiện năm 2009 cho thấy tổng số loài thực vật ở Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò lên đến 877 loài, thuộc 498 chi của 153 họ, 6 ngành thực vật. Trong đó bao gồm 35 loài thực vật bị đe dọa theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), 16 loài đƣợc ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 11 loài đƣợc xếp trong Danh lục đỏ thế giới IUCN. Điển hình là các loài loài cây lá kim quí hiếm nhƣ Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Thông đỏ (Taxus chinensis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Dẻ tùng (Amentotaxus argotaenia), Thông tre (Podocarpus spp) và các loài cây gỗ có giá trị nhƣ Trai lý (Garcinia fagraeoides), Nghiến (Excentrodendron tonkinense).
9 Cho đến nay chƣa có một quy hoạch tổng thể đồng bộ cho KBTTN Hang Kia – Pà Cò, gắn công tác bảo tồn và phát triển bền vững cho khu vực. Các chƣơng trình hoạt động chƣa khai thác tốt các thế mạnh của Khu bảo tồn, thiếu các chƣơng trình đầu tƣ tạo ra đột phá giữa bảo tồn và phát triển theo quan điểm mới trên thế giới và trong nƣớc. Vì thế vẫn chƣa có đánh giá chính xác đƣợc mức độ đa dạng về công dụng, giá trị bảo tồn tại đây, bên cạnh đó vấn đề quản lý bảo vệ cây gỗ đặc biệt là cây gỗ có giá trị bảo tồn và kinh tế vẫn còn nhiều bất cập, khai thác nguồn tài nguyên thực vật tại đây vẫn chƣa đƣợc quản lý chặt chẽ, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên thực vật Đề tài này thực hiện nhằm đánh giá đƣợc tính đa dạng và giá trị bảo tồn của một số loài thƣc vật thân gỗ có giá trị bảo tồn cao từ đó làm cơ sở cho công tác quản lý và và đề xuất giải pháp bảo tồn đạt hiệu quả bền vững. 10 CHƢƠNG 2 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Đối tƣợng ngiên cứu Thực vật thân gỗ từ đai cao 700m trở lên tại KBTTN Hang Kia – Pà Cò 2. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu từ đai cao ≥ 700m tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đánh giá đƣợc thành phần các loài thực vật thân gỗ tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình từ đó làm cơ sở đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát triển hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò 2.
Mục tiêu cụ thể Xây dựng đƣợc bộ danh lục thực vật thân gỗ ở đai cao 700m trở lên của KBTTN Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Đánh giá đƣợc tính đa dạng về thành phần loài, về giá trị sử dụng và đặc điểm phân bố của thực vật thân gỗ tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình - Đề xuất đƣợc một số giải pháp bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại KBTTTN Hang Kia - Pà Cò 2.