Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự suy giảm thảm thực vật rừng tự nhiên dưới tác động của biến đổi khí hậu và các hoạt động nhân sinh đang đe dọa nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học toàn cầu. Theo các số liệu thống kê quốc tế từ IUCN, UNDP và WWF được dẫn lại trong văn bản, trung bình mỗi năm thế giới mất khoảng 20 triệu ha rừng, trong đó nguyên nhân đốt rừng làm nương rẫy chiếm tới 50%, cháy rừng chiếm khoảng 23% và khai thác quá mức chiếm 5–7%. Tại Việt Nam, mặc dù độ che phủ rừng có xu hướng tăng qua các giai đoạn (từ 28,2% năm 1995 lên 33,2% năm 1999 và đạt 40,84% vào năm 2015), song diện tích tăng chủ yếu là rừng trồng, trong khi rừng tự nhiên bị suy giảm mạnh về chất lượng cấu trúc và suy thoái nguồn gen.

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hang Kia – Pà Cò thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình được thành lập theo Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 23/05/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình. Theo nghiên cứu năm 2009 của Phùng Văn Phê, khu hệ thực vật tại đây ghi nhận 877 loài thuộc 498 chi, 153 họ của 6 ngành thực vật có mạch, trong đó có sự hiện diện của nhiều loài lá kim và cây gỗ quý hiếm như Thông Pà Cò, Thông đỏ Bắc, Pơ mu, Nghiến, Trai lý. Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi hiểm trở, đời sống của cộng đồng dân cư địa phương còn nhiều khó khăn, tình trạng khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ và chăn thả gia súc vẫn tiếp diễn, làm chất lượng rừng suy giảm và gây áp lực lớn lên hệ sinh thái rừng. Trước thực trạng thiếu vắng một nghiên cứu kiểm kê chuyên sâu về thực vật thân gỗ ở đai cao để phục vụ quy hoạch bảo tồn, đề tài "Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học thực vật thân gỗ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình" được sinh viên Bùi Thị Sang thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Ngọc Hải tại Trường Đại học Lâm nghiệp vào năm 2017.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thành phần các loài thực vật thân gỗ tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, từ đó làm cơ sở đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát triển hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật tại khu bảo tồn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xây dựng được bộ danh lục thực vật thân gỗ ở đai cao từ 700m trở lên của KBTTN Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
    2. Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài, về giá trị sử dụng và đặc điểm phân bố của thực vật thân gỗ tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
    3. Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật thân gỗ phân bố ở đai cao từ 700m trở lên.
  • Phạm vi không gian: Các sinh cảnh rừng tại đai cao $\ge$ 700m thuộc địa bàn quản lý của KBTTN Hang Kia - Pà Cò (tập trung tại các xã Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn, Cun Pheo, Bao La).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra thực địa và tổng hợp được tiến hành và hoàn thành trong nửa đầu năm 2017 (khóa luận nghiệm thu tháng 06/2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận các quan điểm khoa học về đa dạng sinh học và bảo tồn sinh học:

  • Khái niệm "đa dạng sinh học" của Norse và McManus (1980), định nghĩa của Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất Rio de Janeiro (1992) và định nghĩa của IUCN (1994) phân tích đa dạng sinh học ở 3 cấp độ: di truyền, loài và hệ sinh thái.
  • Khái niệm "bảo tồn sinh học" được khởi xướng bởi Bruce Wilcox và Michael E. Soulé (1978).
  • Quan niệm của Trần Hợp (2002) về thực vật thân gỗ: các loài cây có thân chính hóa gỗ phát triển giữ vai trò "lập quần", trực tiếp kiến tạo cấu trúc và tổ thành của quần xã thực vật rừng.
  • Hệ thống phân loại thực vật bậc cao có mạch theo Brummitt (1992), cùng các tài liệu định danh thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng (1963–1978), Phạm Hoàng Hộ (1991–2000), Trần Đình Lý (1997), Đỗ Tất Lợi (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000).
  • Khung quy chuẩn pháp lý và phân hạng nguy cấp: Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Quyết định số 453/QĐ-UBND (2000) và Quyết định số 36/QĐ-UBND (2014) của UBND tỉnh Hòa Bình.

Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu lâm học và thực vật học truyền thống:

  • Phương pháp kế thừa: Thu thập, tổng hợp các báo cáo quy hoạch, bản đồ hiện trạng rừng, tài liệu khí tượng - thủy văn, số liệu kinh tế - xã hội của 6 xã vùng đệm và công trình điều tra của Phùng Văn Phê (2009).
  • Phương pháp phỏng vấn: Lập phiếu phỏng vấn kết hợp sử dụng ảnh màu để điều tra tri thức bản địa từ cán bộ lâm nghiệp, tổ tuần tra bảo vệ rừng, người dân thường xuyên đi rừng và người hành nghề thuốc nam về tên gọi địa phương, phân bố, tình hình khai thác và công dụng của các loài cây gỗ.
  • Phương pháp điều tra thực địa:
    • Điều tra theo tuyến: Thiết lập 4 tuyến điều tra cắt ngang các dạng địa hình núi đá hiểm trở ở đai cao từ 1.213m đến 1.439m, chiều dài mỗi tuyến từ 0,9 km đến 1,6 km, ghi nhận tọa độ điểm đầu và điểm cuối bằng định vị vệ tinh (GPS).
    • Điều tra theo ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập OTC đại diện cho 3 trạng thái rừng (rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo). Mỗi trạng thái bố trí 2 OTC cách nhau 200m theo đường đồng mức; diện tích mỗi OTC là 500 $m^2$ đối với rừng núi đá vôi (1.000 $m^2$ đối với rừng núi đất). Khảo sát toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) $> 6$ cm, đo đếm chiều cao ($H$), đường kính tán, đánh giá cấp sinh trưởng (Tốt, Trung bình, Xấu).
    • Điều tra tầng cây tái sinh: Trong mỗi OTC, bố trí 5 ô dạng bản nhỏ diện tích 5 $m^2$ (kích thước $2,5 \times 2$ m) gồm 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở trung tâm; thống kê loài cây tái sinh có triển vọng ($H > 1$ m), phân chia nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi) và cấp chiều cao.
    • Thu thập và xử lý mẫu thực vật: Thu hái 3–5 mẫu/cây có đủ lá, cành, hoa/quả; gắn nhãn thực địa ghi rõ số hiệu, vị trí, ngày lấy và đặc điểm nhận dạng.
  • Phương pháp nội nghiệp: Xử lý ép khô, sấy mẫu; giám định tên khoa học qua các khóa định loại và bộ mẫu chuẩn; chỉnh lý danh lục; thống kê cấu trúc taxon (ngành, họ, chi, loài); phân chia 11 nhóm công dụng và đánh giá mức độ bị đe dọa theo các thang bảo tồn hiện hành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các cơ sở lý luận về đa dạng sinh học từ các hội nghị quốc tế và nghiên cứu chuyên ngành. Tác giả tổng kết lịch sử phân loại thực vật trên thế giới từ thời cổ đại đến các bộ thực vật chí hiện đại (Thực vật chí Hồng Kông 1861, Thực vật chí Australia 1866, công trình của Tolmachev về hệ thực vật cụ thể, thống kê của Brummitt 1992 với 511 họ và 13.884 chi thực vật có mạch). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại các mốc nghiên cứu từ thời Tuệ Tĩnh (1417), Lê Quý Đôn, Lecomte (Thực vật chí Đông Dương), Thái Văn Trừng (Thảm thực vật rừng Việt Nam với 7.004 loài), Phạm Hoàng Hộ (Cây cỏ Việt Nam với 10.419 loài), Trần Hợp (Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam). Đối với KBTTN Hang Kia – Pà Cò, chương này chỉ ra rằng công trình năm 2009 của Phùng Văn Phê đã ghi nhận 877 loài thực vật có mạch nhưng chưa đi sâu đánh giá riêng phân nhóm cây gỗ ở đai cao trên 700m và thiếu các đánh giá định lượng về mức độ đa dạng công dụng cũng như phân bố cây tái sinh.

Chương 2: Đối tượng, phạm vi, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Chương này chuẩn hóa hệ thống phương pháp luận phục vụ điều tra thực vật học và sinh thái rừng. Tác giả mô tả chi tiết quy trình bố trí 4 tuyến điều tra thực địa có chiều dài tối thiểu từ 0,9 km đến 1,6 km qua các khu vực núi đá hiểm trở:

Tuyến Địa hình Trạng thái rừng Độ cao (m) Chiều dài tuyến (km) Đặc điểm sinh cảnh và tác động
Tuyến 1 Núi đá Rừng nghèo 1.345 – 1.439 1,3 Phía sau sân bóng xã Hang Kia; chịu tác động khai thác gỗ và chăn thả gia súc mạnh, thảm tươi và cây tái sinh rất nghèo nàn.
Tuyến 2 Núi đá Rừng trung bình 1.213 – 1.312 0,9 Tuyến đường đi Thung Mài, leo từ chân lên đỉnh núi đá 1.334m rồi quay lại.
Tuyến 3 Núi đá Rừng trung bình 1.278 – 1.330 1,4 Phía sau bể nước xã Hang Kia; địa hình hiểm trở, ít bị tác động, còn nhiều loài gỗ quý.
Tuyến 4 Núi đá Rừng nghèo 1.250 – 1.320 1,6 Đỉnh Hang Kia giáp ranh xã Pà Cò; địa hình dốc, rừng đang được khoanh nuôi phục hồi sau chăn thả.

Chương 2 cũng quy định cụ thể kỹ thuật lập OTC 500 $m^2$ trên núi đá vôi bằng địa bàn, thước dây và định lý Pythagoras để đóng góc vuông; quy trình đo chu vi thân cây bằng thước dây rồi quy đổi ra $D_{1.3}$; quy cách bố trí 5 ô dạng bản tái sinh $5\text{ m}^2$ và phân loại 11 nhóm công dụng tài nguyên thực vật.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò

Chương 3 trình bày toàn diện các yếu tố lập địa và bối cảnh nhân sinh của khu vực nghiên cứu:

  • Vị trí và ranh giới: KBTTN Hang Kia – Pà Cò nằm ở phía Bắc huyện Mai Châu, tọa độ địa lý từ $20^\circ 41'$ đến $20^\circ 46'$ vĩ độ Bắc và $104^\circ 05'$ đến $105^\circ 01'$ kinh độ Đông, trải rộng trên địa giới hành chính của 6 xã: Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn, Bao La, Piềng Vế, Cun Pheo. Trụ sở ban quản lý đặt tại xóm Bò Báu, xã Tân Sơn.
  • Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng: Độ cao trung bình 800–900m, đỉnh cao nhất đạt 1.223m. Địa hình karst chia cắt mạnh, độ dốc trung bình 28–$32^\circ$. Hai dạng đá trầm tích chính gồm đá vôi kết tinh (trầm tích hóa học) hình thành đất phong hóa giàu dinh dưỡng trong thung lũng (đất feralit màu nâu dày $>120$ cm) và đá phiến sét sa thạch (trầm tích cơ học) hình thành đất feralit màu sáng dễ bị xói mòn ở sườn núi.
  • Khí hậu, thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao có mùa đông lạnh; nhiệt độ bình quân $21^\circ\text{C}$ (cao nhất $38^\circ\text{C}$, thấp nhất $4^\circ\text{C}$); độ ẩm trung bình 81% (tháng khô nhất xuống 33%). Lượng mưa tập trung 85% vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10); mùa hè chịu ảnh hưởng gió phơn tây nam khô nóng. Mạng lưới thủy văn chỉ có khe suối nhỏ tạm thời vào mùa mưa, mực nước ngầm nằm sâu dưới 12m khiến khu vực thiếu nước sinh hoạt trầm trọng vào mùa khô.
  • Hiện trạng quy hoạch đất lâm nghiệp: Theo Quyết định số 36/QĐ-UBND năm 2014 của UBND tỉnh Hòa Bình, tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn là 5.252,98 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 5.244,07 ha (99,83%). Rừng tự nhiên có diện tích 5.221,38 ha (gồm: rừng nghèo 2.890,22 ha; rừng phục hồi 885,95 ha; rừng trung bình 860,71 ha; rừng giàu 584,5 ha). Phân khu Phục hồi sinh thái chiếm 2.953,28 ha; phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 2.251,96 ha; phân khu Hành chính – Dịch vụ được định hướng 47,74 ha (toàn bộ là rừng nghèo).
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội và áp lực nhân sinh: Dân số vùng đệm gồm 12.207 người thuộc 6 xã, trong đó dân tộc Mường chiếm 45,9%, còn lại là dân tộc Mông, Thái, Tày, Kinh. Lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 86,9% (3.420 người), canh tác chủ yếu là ngô, lúa ruộng bậc thang với mức bình quân lương thực 360 kg/người/năm. Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 94%, nước hợp vệ sinh đạt 65,7%. Ba áp lực chính tác động tiêu cực đến khu bảo tồn gồm: săn bắt động vật hoang dã (nhắm vào gấu, tê tê, bò sát); khai thác gỗ trái phép phục vụ làm nhà và vật dụng gia đình; khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức (đặc biệt là việc chặt hạ cây gỗ lớn để thu hái lan rừng cảnh và đào rễ cây thuốc trong mùa giáp hạt).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh kết quả thống kê phân loại và phân tích cấu trúc hệ thực vật thân gỗ ở đai cao $\ge$ 700m:

  • Thành phần loài và cấu trúc taxon: Ghi nhận 350 loài thực vật thân gỗ thuộc 188 chi và 65 họ, phân bổ trong 2 ngành thực vật có mạch:
    • Ngành Thông (Pinophyta): 7 loài (chiếm 2,00% tổng số loài), 6 chi (3,19%), 3 họ (4,61%).
    • Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 343 loài (chiếm 98,00% tổng số loài), 182 chi (96,81%), 62 họ (95,39%). Toàn bộ các loài thuộc ngành Ngọc lan đều thuộc lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae).
Tên ngành (La-tinh / Việt Nam) Số họ Tỷ lệ (%) Số chi Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
Pinophyta (Ngành Thông) 3 4,61 6 3,19 7 2,00
Magnoliophyta (Ngành Ngọc lan) 62 95,39 182 96,81 343 98,00
Tổng cộng 65 100,00 188 100,00 350 100,00
  • Đa dạng ở bậc dưới ngành:
    • 10 họ đa dạng nhất: Chiếm 15,38% tổng số họ nhưng quy tụ 82 chi (43,61% tổng số chi) và 185 loài (52,85% tổng số loài). Đứng đầu là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 26 chi và 44 loài (chiếm 12,57% tổng số loài), tiếp theo là họ Re (Lauraceae - 28 loài), họ Dâu tằm (Moraceae - 26 loài), họ Na (Annonaceae - 15 loài), họ Đậu (Fabaceae - 15 loài), họ Vang (Caesalpiniaceae - 13 loài), họ Tếch (Verbenaceae - 12 loài), họ Trinh nữ (Mimosaceae - 11 loài), họ Dẻ (Fagaceae - 11 loài) và họ Trôm (Sterculiaceae - 10 loài).
    • 10 chi đa dạng nhất: Chiếm 5,31% tổng số chi nhưng đại diện cho 70 loài (20,00% tổng số loài). Chi giàu loài nhất là Ficus (họ Moraceae) với 18 loài (5,14%), tiếp theo là Litsea (8 loài), Cinnamomum (7 loài), Elaeocarpus (7 loài), Syzygium (6 loài), Mallotus (5 loài), Garcinia (5 loài), Diospyros (5 loài), Acer (5 loài) và Polyalthia (4 loài).
  • Phân bố theo kiểu rừng và trạng thái rừng:
    • Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi bị tác động nhẹ đến vừa: Phổ biến ở vùng lõi phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt (Pà Cò, Cun Pheo, Hang Kia) trên độ cao $>1.000$m. Cấu trúc gồm 3 tầng cây gỗ rõ rệt: Tầng vượt tán ($A_1$) cao 25–30m, đường kính 40–60 cm, độ tàn che 15–20% gồm Nghiến, Cà lồ bắc, Trai lý; Tầng ưu thế sinh thái ($A_2$) cao 15–20m, đường kính 25–40 cm, độ che phủ 30–60% gồm Mang thầu dầu, Mun, Long não, Thông tre lá dài; Tầng dưới tán ($A_3$) cao 6–15m gồm các loài họ Dẻ, Thị, Chè, Re, La bố ma.
    • Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh trên núi đá vôi bị tác động mạnh: Tập trung ở phân khu Phục hồi sinh thái gần khu dân cư. Cấu trúc tầng tán bị phá vỡ, tầng $A_1$ hầu như không liên tục hoặc biến mất, phổ biến trạng thái 2 tầng cây gỗ gồm các loài phục hồi và chịu hạn như Nhội, Vạng trứng, Nhãn rừng, Trường mật, Chò nhai, Sảng.
    • Tổ thành loài và cây tái sinh theo trạng thái rừng: Khóa luận ghi nhận sự biến đổi cấu trúc giữa các trạng thái rừng giàu, trung bình và nghèo. Tại trạng thái rừng giàu và trung bình, cây tái sinh của các loài quý hiếm như Thông Pà Cò, Thông tre lá ngắn, Thông đỏ Bắc, Trai lý, Pơ mu xuất hiện khá đều; trong khi ở trạng thái rừng nghèo chịu chăn thả mạnh, tầng cây tái sinh chủ yếu là Thẩu tấu, Xoan ta, Dẻ cau hoặc hoàn toàn vắng bóng tầng cây con có triển vọng.
  • Đa dạng về giá trị sử dụng và các loài quý hiếm:
    • Giá trị tài nguyên: Thống kê được 11 nhóm công dụng, trong đó nhóm cho gỗ chiếm ưu thế tuyệt đối với 289 loài (82,57%), tiếp đến là nhóm làm thuốc với 102 loài (29,14%), nhóm cho quả ăn (35 loài - 10%), nhóm làm cảnh và bóng mát (22 loài - 6,28%), nhóm cho nhựa (19 loài - 5,42%), nhóm cho rau ăn (16 loài - 4,57%), nhóm cho tinh dầu (11 loài - 3,14%), nhóm cho sợi (9 loài - 2,57%), nhóm cho phẩm màu (8 loài - 2,28%), nhóm cho dầu béo (6 loài - 1,71%) và nhóm cho tinh bột (6 loài - 1,71%).
    • Loài quý hiếm cần bảo tồn: Xác định 24 loài cây thân gỗ có giá trị bảo tồn cao. Trong số đó có 19 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 12 loài có tên trong Danh lục Đỏ thế giới (IUCN) và 9 loài thuộc danh mục quản lý của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Đề tài lập hồ sơ dữ liệu sinh thái học chuyên sâu cho 6 loài gỗ quý tiêu biểu: Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri), Thông đỏ Bắc (Taxus chinensis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Trai lý (Garcinia fagraeoides) và Dẻ cau (Quercus platycalyx / Lithocarpus areca).
  • Giải pháp bảo tồn đề xuất: Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:
    1. Tăng cường năng lực quản lý bảo vệ rừng và tuần tra kiểm soát nghiêm ngặt các điểm nóng khai thác gỗ, thu hái lan rừng.
    2. Quy hoạch phân khu chức năng hợp lý, sớm hoàn thiện xác lập phân khu Hành chính – Dịch vụ (47,74 ha) và cắm mốc ranh giới rõ ràng giữa phân khu Phục hồi sinh thái và Bảo vệ nghiêm ngặt.
    3. Xây dựng các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp nghiên cứu gieo ươm, nhân giống bảo tồn ngoại vi (ex-situ) cho 6 loài gỗ nguy cấp.
    4. Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm, chuyển đổi sinh kế, tập huấn kỹ thuật canh tác nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa và hệ thống hóa nguồn tư liệu về thảm thực vật cây gỗ tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò:

  • Xác lập danh lục gồm 350 loài thực vật thân gỗ thuộc 188 chi và 65 họ của 2 ngành thực vật có mạch ở đai cao từ 700m trở lên. Ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối (343 loài, toàn bộ thuộc lớp Hai lá mầm), phản ánh tính chất nhiệt đới gió mùa điển hình của hệ thực vật vùng núi đá vôi Hòa Bình.
  • Xác định 10 họ giàu loài nhất (chiếm 52,85% tổng số loài, đứng đầu là Euphorbiaceae với 44 loài) và 10 chi giàu loài nhất (chiếm 20,00% tổng số loài, đứng đầu là Ficus với 18 loài).
Xếp hạng Tên họ (Khoa học / Việt Nam) Số chi Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%) Tên chi phong phú nhất Số loài
1 Euphorbiaceae (Thầu dầu) 26 13,82 44 12,57 Mallotus 5
2 Lauraceae (Re) 11 5,85 28 8,00 Litsea 8
3 Moraceae (Dâu tằm) 6 3,19 26 7,42 Ficus 18
4 Annonaceae (Na) 7 3,72 15 4,28 Polyalthia 4
5 Fabaceae (Đậu) 7 3,72 15 4,28 — —
6 Caesalpiniaceae (Vang) 5 2,65 13 3,71 — —
7 Verbenaceae (Tếch) 6 3,19 12 3,42 — —
8 Mimosaceae (Trinh nữ) 6 3,19 11 3,14 — —
9 Fagaceae (Dẻ) 3 1,59 11 3,14 — —
10 Sterculiaceae (Trôm) 5 2,65 10 2,85 — —
  • Thống kê chi tiết 11 nhóm công dụng tài nguyên, chỉ rõ nguồn tài nguyên gỗ (289 loài, 82,57%) và cây thuốc (102 loài, 29,14%) là hai giá trị nổi trội của khu hệ.
  • Ghi nhận 24 loài thực vật thân gỗ quý hiếm, trong đó có 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 12 loài thuộc Danh lục Đỏ IUCN và 9 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP; xây dựng bộ dữ liệu phân bố, sinh thái cho 6 loài gỗ có giá trị bảo tồn đặc biệt.
  • Về mặt đóng góp khoa học: Khóa luận đã lấp khoảng trống nghiên cứu của giai đoạn trước năm 2017, cung cấp bộ dẫn liệu kiểm kê thực địa độc lập cho đối tượng cây gỗ ở đai cao $\ge$ 700m, bổ sung chi tiết về đặc tính phân bố tầng tán và tình trạng cây tái sinh trên các vách núi đá vôi karst mà các khảo sát diện rộng trước đây chưa phản ánh đầy đủ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và điều kiện triển khai thực tế:

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu chỉ tập trung ở đai cao từ 700m trở lên, chưa khảo sát các đai cao dưới 700m nên chưa cung cấp bức tranh toàn diện cho toàn bộ địa bàn khu bảo tồn.
    • Điều kiện địa hình núi đá vôi karst bị chia cắt sâu, độ dốc lớn ($28–32^\circ$) cùng hiện tượng sương mù dày đặc vào mùa đông tại các đỉnh cao trên 1.000m gây trở ngại cho việc kéo dài tuyến điều tra và lập thêm số lượng lớn các ô tiêu chuẩn.
    • Số lượng ô tiêu chuẩn lập được dừng ở mức đại diện định tính cho các trạng thái rừng chính (2 OTC cho mỗi trạng thái), chưa đủ mật độ mẫu để phân tích thống kê định lượng về tương quan sinh thái phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điều tra xuống đai cao dưới 700m và các dải rừng giáp ranh vùng đệm nhằm hoàn thiện bản đồ danh lục thực vật thân gỗ cho toàn khu bảo tồn.
    • Tiến hành các nghiên cứu sâu về sinh thái quần thể, động thái tái sinh hạt tự nhiên và cơ chế nhân giống vô tính đối với 6 loài cây gỗ đặc biệt nguy cấp (Thông Pà Cò, Thông đỏ Bắc, Trai lý, Thông tre lá ngắn, Pơ mu, Dẻ cau).
    • Nghiên cứu thực nghiệm các mô hình lâm sản ngoài gỗ bền vững dưới tán rừng để tạo sinh kế thay thế cho cộng đồng dân tộc Mông, Mường tại vùng đệm.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với nhiều đối tượng và lĩnh vực học thuật:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học bảo tồn và Khoa học môi trường; cán bộ kỹ thuật của Ban Quản lý KBTTN Hang Kia - Pà Cò và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Bảng danh lục 350 loài cây gỗ kèm hệ thống tên khoa học, họ, chi và 11 nhóm công dụng cụ thể, phục vụ tra cứu phân loại học.
    • Các số liệu hiện trạng quy hoạch đất lâm nghiệp (Quyết định 36/QĐ-UBND năm 2014) và sự phân bố diện tích 4 trạng thái rừng tự nhiên (rừng giàu, trung bình, nghèo, phục hồi).
    • Phương pháp thiết kế tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn 500 $m^2$ kết hợp ô dạng bản 5 $m^2$ để đánh giá cây tái sinh trên địa hình karst vùng núi phía Bắc.
    • Danh mục chi tiết 24 loài gỗ nguy cấp được đối chiếu chéo giữa Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, là cơ sở khoa học để xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng số bao nhiêu loài thực vật thân gỗ tại KBTTN Hang Kia - Pà Cò và tỷ lệ phân bố giữa các ngành thực vật như thế nào?
Nghiên cứu đã ghi nhận 350 loài thực vật thân gỗ thuộc 188 chi và 65 họ của 2 ngành thực vật có mạch ở đai cao $\ge$ 700m. Trong đó, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế áp đảo với 343 loài (98,00%), 182 chi (96,81%) và 62 họ (95,39%), toàn bộ thuộc lớp Hai lá mầm. Ngành Thông (Pinophyta) chỉ có 7 loài (2,00%), 6 chi (3,19%) và 3 họ (4,61%).

2. Những họ và chi nào có độ đa dạng loài phong phú nhất trong hệ thực vật thân gỗ ở khu bảo tồn?
Họ có nhiều loài nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 44 loài (12,57% tổng số loài) và 26 chi, tiếp theo là họ Re (Lauraceae) với 28 loài và họ Dâu tằm (Moraceae) với 26 loài. Ở bậc chi, chi đa dạng nhất là chi Ficus (thuộc họ Moraceae) với 18 loài (chiếm 5,14% tổng số loài), tiếp đến là chi Litsea (8 loài), Cinnamomum (7 loài) và Elaeocarpus (7 loài).

3. Khóa luận ghi nhận bao nhiêu loài cây gỗ quý hiếm và xây dựng hồ sơ chuyên sâu cho những loài nào?
Tại khu bảo tồn có 24 loài cây gỗ quý hiếm, bao gồm 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 12 loài thuộc Danh lục Đỏ thế giới IUCN và 9 loài nằm trong danh mục hạn chế khai thác của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Đề tài đã xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái và bảo tồn cho 6 loài tiêu biểu: Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri), Thông đỏ Bắc (Taxus chinensis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Trai lý (Garcinia fagraeoides) và Dẻ cau (Quercus platycalyx).

4. Hiện trạng phân bố các trạng thái rừng tự nhiên theo số liệu quy hoạch năm 2014 tại khu bảo tồn như thế nào?
Theo số liệu quy hoạch tại Quyết định số 36/QĐ-UBND (2014) dẫn trong khóa luận, tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 5.221,38 ha (chiếm 99,40% đất tự nhiên). Trong đó, diện tích rừng gỗ nghèo chiếm tỷ lệ lớn nhất với 2.890,22 ha; tiếp theo là rừng gỗ phục hồi với 885,95 ha; rừng gỗ trung bình với 860,71 ha; và rừng gỗ giàu chỉ còn 584,5 ha (tập trung chủ yếu ở phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt).

5. Quy cách thiết lập ô tiêu chuẩn (OTC) và ô điều tra tầng cây tái sinh được tác giả thực hiện như thế nào ngoài thực địa?
Đối với rừng trên núi đá vôi, tác giả thiết lập OTC diện tích 500 $m^2$ (hình chữ nhật, một cạnh song song đường đồng mức), mỗi trạng thái rừng bố trí 2 OTC cách nhau 200m; đo đếm toàn bộ cây gỗ có $D_{1.3} > 6$ cm. Để khảo sát cây tái sinh, tác giả bố trí 5 ô dạng bản diện tích 5 $m^2$ ($2,5 \times 2$ m) gồm 4 ô tại 4 góc và 1 ô tại trung tâm OTC để kiểm đếm cây tái sinh có triển vọng ($H > 1$ m) và phân loại nguồn gốc hạt hoặc chồi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Thị Sang đã kiểm kê và đánh giá đa dạng sinh học hệ thực vật thân gỗ ở đai cao từ 700m trở lên tại KBTTN Hang Kia – Pà Cò, ghi nhận 350 loài thuộc 188 chi và 65 họ của 2 ngành thực vật. Nghiên cứu đã làm rõ cấu trúc tầng tán, đặc điểm phân bố của cây gỗ và cây tái sinh theo 3 trạng thái rừng trên núi đá vôi, đồng thời chỉ ra 24 loài gỗ quý hiếm đang chịu áp lực khai thác nhân sinh. Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học, cung cấp cơ sở để Ban Quản lý khu bảo tồn điều chỉnh phân khu chức năng và thực thi các biện pháp bảo tồn nguồn gen nguy cấp tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.