Tổng quan nghiên cứu

Ngành Thông (Pinophyta hay Gymnospermae) trên quy mô toàn cầu chỉ bao gồm khoảng 600 đến 650 loài so với hơn 250.000 loài thực vật Hạt kín, nhưng có tới hơn 200 loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Tại Việt Nam, hệ thực vật hạt trần bản địa ghi nhận khoảng 30 loài, đóng vai trò then chốt trong cấu trúc phòng hộ đầu nguồn và lưu trữ nguồn gen cổ sinh đặc hữu. Tuy nhiên, tình trạng khai thác gỗ thương phẩm quá mức cùng với sự suy thoái sinh cảnh rừng tự nhiên đang đẩy nhiều loài như Pơ mu, Sa mu dầu, Bách xanh vào tình trạng nguy cấp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự thiếu hụt các dữ liệu định lượng có hệ thống về đặc điểm sinh thái, cấu trúc tổ thành và quy luật phân bố không gian của các loài hạt trần tại khu vực giáp ranh Bắc Trung Bộ và Tây Bắc. Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm: xác định thành phần loài thực vật ngành Thông; xây dựng cơ sở dữ liệu về phân bố theo đai cao và hiện trạng bảo tồn; thử nghiệm kỹ thuật nhân giống vô tính loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý bền vững.

Nghiên cứu được triển khai trên toàn bộ diện tích 23.815,5 ha của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, thuộc địa giới hành chính của 5 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Xuân Cẩm và Lương Sơn (huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Thời gian thực hiện từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ hơn 4.000 ha rừng nguyên sinh đai cao trên 800 m, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để quản lý 38 loài thực vật nguy cấp có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới (IUCN).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống phân loại thực vật bậc cao của Takhtadjan (2009) để giám định và sắp xếp vị trí phân loại của các taxon hạt trần, kết hợp với bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) nhằm xác định các quần xã thực vật đặc trưng. Cơ sở lý thuyết về động thái quần thể và sinh thái học phục hồi rừng được sử dụng để phân tích quy luật tái sinh tự nhiên dưới tán rừng kín thường xanh.

Khung đánh giá hiện trạng bảo tồn dựa trên các tiêu chí định lượng của Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2012), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT về thực thi Công ước CITES. Luận văn vận hành 4 khái niệm nền tảng: Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation), Bảo tồn chuyển vị (Ex-situ conservation), Tái sinh tự nhiên (Natural regeneration) và Cấu trúc tổ thành lâm phần (Species composition). Khung lý thuyết này áp dụng đánh giá cho toàn bộ khu hệ thực vật gồm 1.142 loài thuộc 180 họ tại khu bảo tồn, đặc biệt tập trung vào các quần thể thực vật hạt trần phân bố ở độ cao từ 800 m đến 1.605 m.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua quá trình điều tra thực địa trên 20 tuyến điều tra với tổng chiều dài 109,53 km, phủ kín các tiểu khu trọng điểm như tiểu khu 484, 485, 489, 495 và 512. Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng để khảo sát dọc các sườn dông và đỉnh núi hiểm trở. Đối với tầng cây cao, tiến hành đo đếm 100% các cá thể hạt trần có đường kính ngang ngực từ 6,0 cm trở lên bằng thước kẹp kính, đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành bằng thước đo cao Blume-Leiss, đo đường kính tán theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc bằng thước dây.

Để nghiên cứu đặc tính tái sinh, đề tài thiết lập hệ thống ô dạng bản kích thước 2,0 m x 2,0 m (diện tích 4,0 m2) xung quanh gốc cây mẹ theo 4 hướng, gồm 4 ô dưới tán và 4 ô ngoài tán nhằm theo dõi mật độ cây mầm và tỷ lệ che phủ của thảm tươi. Phương pháp điều tra xã hội học sử dụng công cụ Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và Đánh giá nhanh nông thôn (RRA), phỏng vấn bán cấu trúc 35 đối tượng chuyên sâu (gồm 20 cán bộ thôn bản tại các vùng phân bố và 15 cán bộ kiểm lâm thuộc ban quản lý khu bảo tồn).

Thử nghiệm nhân giống vô tính loài Bách xanh được thiết kế bằng phương pháp giâm hom cành dài 10-15 cm trên nền cát sạch khử trùng bằng dung dịch Benlate nồng độ 15%, thử nghiệm chất kích thích ra rễ IBA ở 3 mức nồng độ (0,5%, 1,0%, 1,5%) so sánh với công thức đối chứng (0%). Timeline toàn bộ quá trình thu thập thực địa, phân tích tiêu bản và theo dõi thí nghiệm giâm hom kéo dài liên tục trong 6 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn đã ghi nhận và xác lập danh lục 9 loài thực vật thuộc ngành Thông (Pinophyta), đại diện cho 7 chi và 5 họ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, chiếm 0,79% tổng số loài thực vật bậc cao tại đây. Các loài bao gồm: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mu dầu (Cunninghamia konishii), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia), Kim giao núi đất (Nageia wallichiana), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Thiên tuế lược (Cycas pectinata) và Dây gắm (Gnetum gnemon).

Thứ hai, kết quả phân tích phân bố không gian cho thấy 100% các loài thân gỗ ngành Thông phân bố nghiêm ngặt ở đai á nhiệt đới từ độ cao 800 m đến 1.600 m, hoàn toàn vắng mặt ở đai nhiệt đới dưới 700 m. Các quần thể tập trung chủ yếu trên nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá Granit và Riolit với diện tích 3.638 ha tại các tiểu khu 484, 485, 489, 497.

Thứ ba, khảo sát tái sinh tự nhiên cho thấy khả năng tái sinh của các loài hạt trần rất thấp. Mật độ cây con tái sinh dưới tán cây mẹ chỉ dao động từ 1 đến 3 cây trên mỗi ô dạng bản 4 m2; tỷ lệ chết của cây con dưới 1 năm tuổi lên tới trên 70% do thiếu ánh sáng khi độ tàn che của tán rừng nguyên sinh vượt quá 0,8.

Thứ tư, thử nghiệm nhân giống vô tính giâm hom loài Bách xanh ghi nhận tỷ lệ ra rễ đạt đỉnh 83,3% ở công thức xử lý chất điều hòa sinh trưởng IBA nồng độ 1,0%, với số lượng rễ bình quân đạt 4,8 rễ/hom và chiều dài rễ trung bình đạt 5,2 cm sau 120 ngày theo dõi. Tỷ lệ này cao hơn 68,3% so với công thức đối chứng không xử lý thuốc kích thích (chỉ đạt tỷ lệ ra rễ 15,0%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm mật độ quần thể các loài ngành Thông tại Xuân Liên xuất phát từ đặc tính sinh thái hẹp và áp lực tác động nhân vi trong quá khứ. Về mặt nội tại, hạt giống của các loài như Sa mu dầu và Pơ mu có tỷ lệ nảy mầm tự nhiên trong rừng dưới 25%, tầng thảm mục dày ngăn cản rễ mầm tiếp xúc với đất khoáng. Về mặt ngoại cảnh, khí hậu khu vực có từ 5 đến 7 ngày sương muối vào mùa đông và lượng mưa tập trung 60-80% vào các tháng 5 đến tháng 10 gây xói mòn sườn dốc.

Khi so sánh với các nghiên cứu tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Copia (Sơn La) hay rừng Pha Phanh (Thanh Hóa), kết quả nghiên cứu tại Xuân Liên tương đồng về giới hạn đai cao phân bố (800-1500 m), nhưng phát hiện số lượng loài đa dạng hơn với 9 loài so với 5 loài tại Copia và 8 loài tại Pha Phanh. Kết quả giâm hom Bách xanh đạt tỷ lệ ra rễ trên 80% tại nồng độ IBA 1,0% hoàn toàn tương thích với các kết luận nhân giống vô tính tại Ba Vì và Lâm Đồng.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua bản đồ phân bố không gian tỷ lệ 1:25.000 xây dựng bằng phần mềm MapInfo, kết hợp biểu đồ cột so sánh mật độ tái sinh tự nhiên giữa 4 đai cao (800-1000 m, 1000-1200 m, 1200-1400 m và trên 1400 m), cùng bảng ma trận phân tích 10 nguy cơ suy giảm sinh thái theo phương pháp định lượng của Margoluis và Salafsky.

Đề xuất và khuyến nghị

Thiết lập khu vực bảo vệ nghiêm ngặt 4.000 ha rừng nguyên sinh trên đai cao từ 800 m đến 1.605 m tại các tiểu khu 484, 485, 489 và 497. Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn cần tăng cường tuần tra định kỳ 12 đợt mỗi năm, duy trì hệ thống chốt kiểm soát tại Bản Vịn và Sông Khao nhằm triệt tiêu 100% các hành vi khai thác, chặt trộm cây gỗ quý Pơ mu và Bách xanh trong giai đoạn 2016-2020.

Thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hỗ trợ tái sinh tự nhiên trên diện tích 50 ha rừng có phân bố cây mẹ Sa mu dầu và Dẻ tùng sọc trắng. Cán bộ kỹ thuật của Ban quản lý khu bảo tồn tiến hành phát dọn dây leo bụi rậm, xới đất cục bộ theo băng và điều chỉnh độ tàn che tán rừng từ mức trên 0,8 xuống mức 0,5-0,6 xung quanh các ô dạng bản. Mục tiêu nâng tỷ lệ sống của cây tái sinh từ dưới 30% lên trên 65% trong khung thời gian 24 tháng.

Triển khai quy trình bảo tồn chuyển vị thông qua việc ứng dụng công nghệ giâm hom cành Bách xanh bằng chất điều hòa sinh trưởng IBA nồng độ 1,0%. Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế cần xây dựng vườn ươm giống công nghệ cao để sản xuất tối thiểu 5.000 cây giống đạt chuẩn mỗi năm, đồng thời quy hoạch khu vườn thực vật rộng 61,2 ha tại phân khu hành chính dịch vụ để lưu giữ nguồn gen giai đoạn 2017-2022.

Mở rộng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và giao khoán bảo vệ rừng cho 100% cộng đồng thôn bản thuộc 5 xã vùng đệm (Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, Lương Sơn). Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân phối hợp cùng Ban quản lý Khu bảo tồn đảm bảo định mức chi trả đạt trên 400.000 đồng/ha/năm, gắn với chương trình phát triển sinh kế lâm sản ngoài gỗ để giảm thiểu 80% áp lực khai thác tài nguyên rừng từ người dân địa phương trong giai đoạn 2016-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Sinh thái học thực vật. Nhóm này có thể khai thác bộ cơ sở dữ liệu định lượng về 9 loài thực vật ngành Thông, quy luật tổ thành thảm thực vật á nhiệt đới và quy trình kỹ thuật giâm hom Bách xanh đạt tỷ lệ ra rễ 83,3% để phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia trên toàn quốc, đặc biệt là các đơn vị thuộc vùng sinh thái Bắc Trung Bộ và Tây Bắc (như Pù Hoạt, Pù Luông, Bạch Mã, Hoàng Liên). Tài liệu cung cấp quy trình điều tra 20 tuyến thực địa dài 109,53 km và phương pháp thiết lập ô dạng bản 4 m2 theo dõi tái sinh quanh gốc cây mẹ để chuẩn hóa hoạt động giám sát đa dạng sinh học.

Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác về vùng phân bố 4.000 ha rừng hạt trần nguyên sinh để phân định ranh giới tiểu khu, phê duyệt các dự án bảo tồn loài nguy cấp và thực thi hiệu quả Nghị định 32/2006/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh.

Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên phi chính phủ và các quỹ tài trợ quốc tế (như WWF, IUCN, FFI, PRCF). Nguồn dữ liệu thực chứng về các quần thể cực kỳ nguy cấp như Sa mu dầu và Pơ mu là căn cứ thực tế để xây dựng các đề xuất dự án tài trợ bảo tồn nguồn gen quý hiếm và phục hồi sinh cảnh rừng nhiệt đới giai đoạn 5-10 năm.

Câu hỏi thường gặp

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên hiện ghi nhận bao nhiêu loài thực vật thuộc ngành Thông? Luận văn đã thống kê chính xác 9 loài thực vật thuộc ngành Thông, đại diện cho 7 chi và 5 họ thực vật, chiếm 0,79% tổng số 1.142 loài thực vật bậc cao tại khu bảo tồn. Tiêu biểu là các loài quý hiếm như Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mu dầu (Cunninghamia konishii), Bách xanh (Calocedrus macrolepis) và Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia).

Tại sao các loài hạt trần thân gỗ tại Xuân Liên chỉ phân bố ở độ cao trên 800 mét? Các loài cây ngành Thông thân gỗ có biên độ sinh thái hẹp, chỉ sinh trưởng tối ưu trong điều kiện khí hậu á nhiệt đới núi cao có nhiệt độ trung bình 15-24°C, độ ẩm không khí đạt 85-91% và phát triển trên nền đất Feralit mùn vàng đỏ (chiếm 3.638 ha). Ở độ cao dưới 700 m, nhiệt độ cao và sự cạnh tranh gay gắt của các loài Hạt kín khiến chúng không thể phân bố tự nhiên.

Công thức xử lý chất điều hòa sinh trưởng nào cho hiệu quả giâm hom Bách xanh cao nhất? Công thức giâm hom cành Bách xanh dài 10-15 cm sử dụng chất kích thích sinh trưởng IBA ở nồng độ 1,0% cho kết quả tối ưu nhất với tỷ lệ ra rễ đạt 83,3%, số lượng rễ trung bình 4,8 rễ/hom và chiều dài rễ đạt 5,2 cm sau 120 ngày theo dõi, cao vượt trội so với công thức đối chứng (15,0%).

Thực trạng tái sinh tự nhiên của các loài Thông quý hiếm tại khu bảo tồn diễn ra như thế nào? Khả năng tái sinh tự nhiên của các loài như Pơ mu, Sa mu dầu, Thông tre rất yếu ớt, mật độ chỉ đạt 1-3 cây mầm/ô dạng bản 4 m2. Tỷ lệ cây mầm bị chết tự nhiên trong năm đầu tiên vượt quá 70% do tầng thảm tươi dày đặc và độ tàn che tán rừng quá lớn (>0,8) làm triệt tiêu ánh sáng tán xạ cần thiết.

Những mối đe dọa sinh học lớn nhất đối với hệ thực vật ngành Thông tại Xuân Liên là gì? Các mối đe dọa hàng đầu bao gồm: lịch sử khai thác chọn lọc các loài gỗ có giá trị thương phẩm cao (Pơ mu, Bách xanh), sinh cảnh bị phân cắt cục bộ, hạt giống có tỷ lệ nảy mầm tự nhiên thấp dưới 25% và áp lực thu hái lâm sản từ hơn 30.000 người dân sinh sống tại các xã vùng đệm xung quanh 23.815,5 ha của khu bảo tồn.

Kết luận

  • Xác định và công bố danh lục 9 loài thực vật ngành Thông thuộc 7 chi, 5 họ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, trong đó nhiều loài được công nhận là Cây Di sản Việt Nam và ghi danh trong Sách đỏ thế giới.
  • Làm rõ quy luật phân bố sinh thái theo đai cao với 100% các loài thân gỗ lá kim tập trung từ độ cao 800 m đến 1.605 m trên diện tích 3.638 ha đất Feralit mùn đồi núi trung bình.
  • Đánh giá định lượng hiện trạng tái sinh tự nhiên kém với tỷ lệ chết cây mầm vượt 70% trên 20 tuyến điều tra dài 109,53 km, chỉ ra nguyên nhân do độ che phủ tán rừng quá dày.
  • Hoàn thiện thành công quy trình nhân giống vô tính loài Bách xanh bằng chất điều hòa sinh trưởng IBA 1,0%, đạt tỷ lệ ra rễ 83,3% làm cơ sở cho công tác bảo tồn ngoại vi.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện kết hợp giữa kỹ thuật lâm sinh, khoanh nuôi bảo vệ 4.000 ha rừng nguyên sinh và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 5 xã vùng đệm.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là hoàn thiện bộ dữ liệu sinh thái học thực chứng và giải pháp nhân giống bảo tồn thực vật hạt trần cho khu vực chuyển tiếp Bắc Trung Bộ. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2016-2020 là mở rộng sản xuất 5.000 cây giống Bách xanh/năm, hướng tới phục hồi 100 ha rừng hạt trần bản địa giai đoạn 2021-2025. Các cơ quan quản lý và nhà khoa học cần nhanh chóng đưa các kết quả thực nghiệm vào quy hoạch quản lý rừng bền vững để bảo tồn vẹn toàn nguồn gen quý giá này.