ĐẶT VẤN ĐỀ Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một tiềm năng to lớn của tài nguyên rừng Việt Nam, có vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất và xuất khẩu. Nhiều loại cây LSNG là điều kiện sinh tồn và là yếu tố làm giàu cho các cộng đồng dân cƣ vùng cao. Không ít LSNG là nguồn nguyên liệu quan trọng cho việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống nhƣ: thủ công mỹ nghệ, dệt vải, nhuộm, y học cổ truyền; nhiều lâm đặc sản nhƣ tinh dầu quế, cánh kiến, dầu thông, nhựa trám đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển các ngành công nghiệp, thực phẩm và hoá chất. Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hu đƣợc thành lập năm 1999 với diện tích hiện nay là 28.473,71 ha; là sự kết hợp giữa HST núi đá vôi với HST núi đất và HST rừng độc đáo, với nhiều thực vật quý hiếm nhƣ: kim giao, lát hoa, sến mật, trƣờng mật,.
Khu BTTN Pù Hu có 2 kiểu rừng chính: rừng thƣờng xanh núi đất đai thấp phân bố ở độ cao dƣới 700 m, với các loài thực vật ƣu thế thuộc họ Đậu, họ Xoan và họ Bồ hòn; rừng thƣờng xanh núi đất đai cao phân bố ở độ cao trên 700 m, với các loài thực vật ƣu thế của họ Dẻ, họ Dâu tằm và họ Re. Mặc dù với sự phát triển vƣợt bậc của các ngành công nghiệp chế biến với nhiều loại sản phẩm phục vụ đời sống con ngƣời, nhƣng nhu cầu về sử dụng các sản phẩm từ rừng đặc biệt là LSNG vẫn ngày càng gia tăng. Do đó việc nghiên cứu về thực trạng LSNG là rất quan trọng và cần thiết, một mặt phục vụ cho đời sống ngày càng cao của nhân dân, mặt khác góp phần bảo tồn và phát triển đƣợc nguồn tài nguyên quý giá. Tuy nhiên để đánh giá cụ thể về hiện trạng của các loài cây LSNG ở khu BTTN Pù Hu thì chƣa có công trình nghiên cứu nào.
Vì vậy, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu hiện trạng các loài cây lâm sản ngoài gỗ tại Khu BTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa” nhằm góp phần bổ sung đánh giá hiện trạng và tiềm năng; đề xuất giải pháp cho công tác bảo tồn và phát triển LSNG ở khu vực. c 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại thực vật cho LSNG. Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ con ngƣời.
Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô nhƣ tre, nứa, song, mây và sợi. Dựa vào phân nhóm giá trị sử dụng LSNG theo giáo trình LSNG của trƣờng Đại học Lâm nghiệp, LSNG [14] đƣợc phân chia theo nhóm giá trị sử dụng nhƣ sau: - Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp. - Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ. - Nhóm LSNG dùng làm lƣơng thực, thực phẩm và chăn nuôi.
- Nhóm LSNG dùng làm dƣợc liệu. - Nhóm LSNG dùng làm cảnh. Theo quan điểm của Đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 -2020 ban hành kèm theo Quyết định số 2366/BNN-LN, ngày 17/8/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phân chia LSNG thành 6 nhóm (cho sợi, thực phẩm, làm thuốc, làm cảnh, tinh dầu và các loại khác). LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội: + LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội.
Chúng có giá trị lớn và có tạo ra nhiều công ăn việc làm. + LSNG đóng góp vào sự đa dạng sinh học của rừng. Chúng là nguồn gen hoang dã quý, có thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp. + LSNG hiện bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi ảnh hƣởng của sự tăng dân số, mở rộng đất canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt.
Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới. Từ những năm 1980 trở lại đây có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh đƣợc giá trị thực của thực vật cho LSNG, cũng nhƣ đã chỉ rõ vai trò to lớn của nó đối với sự nghiệp phát triển bền vững. Đầu tiên phải kể đến những phát hiện về khả năng đặc biệt của thực vật LSNG nhƣ phục hồi nhanhh, cho thu hoạch sớm, năng suất kinh tế cao, ổn định, có thể kinh doanh liên tục và việc khai thác chúng thƣờng ít phá hủy hệ sinh thái. Vì vậy, bằng cách duy trì tính nguyên vẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có thể nuôi dƣỡng đƣợc tính đa dạng sinh học cơ bản và bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
Bảo tồn có khai thác sẽ cung cấp những sản phẩm cần thiết cho một bộ phận của xã hội một cách bền vững (Mendelsohn, 1992). Nghiên cứu của Mendelsohn (1992) đã chỉ rõ vai trò của thực vật LSNG, theo ông: thực vật LSNG quan trọng cho bảo tồn bởi việc khai thác chúng có thể luôn đƣợc thực hiện với sự tổn hại ít nhất đến rừng. Thực vật LSNG quan trọng cho tính bền vững vì trong quá trình khai thác chúng vẫn đảm bảo cho rừng ở trạng thái tự nhiên. Thực vật LSNG quan trọng trong đời sống bởi nó có thể cung cấp nhiều dạng sản phẩm nhƣ thực vật ăn đƣợc, nhựa, thuốc, tanin, sợi, cây làm thuốc.
và ngoài sử dụng trực tiếp ngƣời thu hái có thể đem bán, trao đổi (một trong các yếu tố không thể thiếu của xã hội). Do đó, ông khẳng định rừng nhƣ một nhà máy quan trọng của xã hội và thực vật LSNG là một trong những sản phẩm quan trọng của nhà máy này. LSNG đƣợc hiểu theo nhiều cách dựa vào định nghĩa của các nhà khoa học đƣa ra ở các thời điểm khác nhau: De.Beer (1989) đã quan niệm LSNG là “tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng đƣợc khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của loài ngƣời. LSNG bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, chất đốt và các nguyên liệu thô, song, mây, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi.DeBeer định nghĩa về LSNG nhƣ sau: LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ đƣợc khai thác từ rừng để phục vụ con ngƣời.
Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô nhƣ tre, nứa, song mây, gỗ nhỏ và sợi” [15,37]. Nhƣ vậy, các khái niệm trên có thể đƣa ra những cách nhìn chung về LSNG, và qua đó giúp chúng ta nhận thức một cách đúng đắn về giá trị của nó. Những nghiên cứu về LSNG đã cho thấy tiềm năng to lớn của nó ở các nƣớc nhiệt đới. Do vậy, kinh doanh thực vật LSNG đang mở ra triển vọng phát triển rừng bền vững, nó có thể kết hợp với kinh doanh rừng gỗ làm thành mô hình kinh doanh có hiệu quả trên mọi mặt.
Những nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam. LSNG từ xƣa đến nay vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của gia đình dân cƣ vùng trung du và miền núi nƣớc ta. Gần đây, nhờ việc buôn bán qua biên giới những sản phẩm này đƣợc đánh giá cao hơn. Cũng nhƣ các nƣớc trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có một tập đoàn thực vật LSNG rất đa dạng và phong phú.
Đó là điều kiện thuận lợi cho nhiều ngƣời nghiên cứu, tìm tòi cũng nhƣ áp dụng các kết quả đã đƣợc nghiên cứu và thử nghiệm trên thế giới để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên này. Việt c 5 Nam là một trong những những nƣớc có tài nguyên đa dạng sinh học cao, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để phat triển LSNG. Tính đa dạng sinh học cao của nƣớc ta thể hiện ở các yếu tố sau: - Đa dạng về HST: Do đa dạng và phong phú của điều kiện địa hình, khí hậu của Việt Nam nên ở đây quy tụ nhiều HST. Ba HST lớn và tầm quan trọng nhất về kinh tế, khoa học và xã hội là: HST trên cạn, HST đất ngập nƣớc và HST biển và hải đảo.
+ Hệ sinh thái trên cạn: Hai phần ba lãnh thổ Việt Nam là rừng núi. Diện tích rừng hiện nay là trên 12 triệu ha rừng tự nhiên và khoảng 2 triệu ha rừng trồng, tạo nên độ che phủ rừng trên 36% (Bộ NN&PTNT 2005). Hệ sinh thái rừng tự nhiên nhiệt đới Việt Nam thƣờng có nhiều tầng: Tầng cây gỗ, cây bụi và cây thảo. Trong 1 ha rừng ở trạng thái nguyên sinh, có thể thống kê đến hàng chụ loài cây gỗ và rất nhiều loài cây thảo.
Các loài LSNG tập trung nhất trong hệ sinh thái rừng trên cạn. Đặc biệt nhƣ rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới chứa nhiều loài cây thuốc, song mây, tre nứa; rừng thƣa rụng lá, ƣu thế cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) chứa nhiều loài cây cho nhựa dầu và nhiều loài thú lớn; rừng thuộc đai á nhiệt đới ở độ cao trên 800m có rất nhiều cây lá kim, cây hoa và cây cảnh; rừng trên đá vôi có nhiều loài cây thuốc quý, nhiều loài phong lan đẹp. + Hệ sinh thái đất ngập nƣớc: Việt Nam có nhiều kiểu đất ngập nƣớc, khác nhau về loại hình, chức năng và giá trị kinh tế, khoa học. Hiện nay đã xác định đƣợc 39 kiểu đất ngập nƣớc, trong đó có gần 70 khu đất ngập nƣớc có tầm quan trọng cấp quốc gia và quốc tế về ĐDSH và bảo tồn.
Các khu đất ngập nƣớc ven biển với các rừng ngập mặn và rừng tràm rộng lớn là nguồn cung cấp tamin, thuốc nhuộm, tinh dầu và mật ong rất quan trọng của Việt Nam. Chúng cũng là nơi bảo vệ và cung cấp hải sản rất quan trọng của các vùng ven biển. c 6 - Hệ sinh thái biển và hải đảo: Với bờ biển dài trên 3.000 km, Việt Nam có hệ sinh thái biển và hải đảo rất đa dạng, bao gồm nhiều sinh cảnh khác nhau nhƣ: Cửa sông, đầm phá ven biển, các rạn san hô, các hài đảo. Đây là vùng trồng và đánh bắt nhiều loại hải sản nổi tiếng.
Chúng cũng là nơi sống tự nhiên của các loài rong câu, cỏ biển. - Đa dạng về hệ động – thực vật: Trƣớc Cách mạng Tháng 8 năm 1945, các nhà thực vật mới thu thập và giám định đƣợc trên 7000 loài thực vật Bậc cao. Nhƣng đến nay đã thu thập đƣợc trên 11.524 Chi và 378 họ.