CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO LÃNH CHO VAY 1. Khái niệm và phân loại bảo lãnh ngân hàng 1. Khái niệm Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo lãnh song về bản chất chúng giống nhau.
Tại Khoản 18 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Còn tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 cũng có quy định: “ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận” Từ các khái niệm trên, ta thấy tham gia vào hoạt động bảo lãnh luôn có ít nhất ba chủ thể, đó là: • Bên bảo lãnh: là tổ chức tín dụng - chủ thể thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh • Bên được bảo lãnh: là khách hàng - chủ thể được tổ chức tín dụng bảo lãnh 5 • Bên nhận bảo lãnh: là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Ngoài ra còn có thể có các bên liên quan đến việc bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho khách hàng, như bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng đối với tổ chức tín dụng. Phân loại bảo lãnh ngân hàng * Theo mục đích của bảo lãnh: - Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay (bên nhận bảo lãnh) về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách hàng đi vay (bên được bảo lãnh) không trả được.
Mục đích của bảo lãnh vay vốn là giúp người đi vay (nhà nước, DN, tổ chức tín dụng) có thể vay vốn được trong trường hợp uy tín của người đi vay trên thị trường đó chưa cao. - Bảo lãnh thanh toán: Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho bên nhận bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không thanh toán đủ. Mục đích của bảo lãnh thanh toán là bảo vệ cho bên bán khỏi rủi ro không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn từ phía bên mua. Vì trong một số trường hợp thì người mua không cần thanh toán ngay cho người bán tức là quan hệ giữa người mua và người bán ở đây là quan hệ tín dụng thương mại, chính vì vậy rủi ro trên có thể xảy ra.
- Bảo lãnh tham gia dự thầu: Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp đồng dự thầu. Mục đích của bảo lãnh tham gia dự thầu là để bù đắp những thiệt hại về thời gian và chi phí cho người tổ chức đấu thầu do những vi phạm của bên tham gia dự thầu như: rút lui không tham gia đấu thầu, không ký kết hợp đồng 6 khi trúng thầu. Loại bảo lãnh này cũng giúp cho người tham gia dự thầu không phải chi một số tiền nhất định (tiền ký quỹ), tức là đã giúp họ tránh được tình trạng ứ đọng vốn khi tham gia dự thầu. Không những thế bảo lãnh tham gia dự thầu cũng giúp các bên tránh được những thủ tục phiền hà trong trường hợp ký quỹ.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ như cam kết, gây tổn thất cho bên nhận bảo lãnh. Mục đích của bảo lãnh thực hiện hợp đồng là bù đắp một phần tổn thất cho bên nhận bảo lãnh trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng như: cung cấp không đúng hạn, không đúng chất lượng như cam kết. Mặt khác, nó cũng thúc đẩy khách hàng nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể được chia nhỏ ra thành các loại bảo lãnh khác nhau, ví dụ như: nếu bảo lãnh thực hiện hợp đồng chỉ liên quan đến việc khách hàng sẽ cung cấp hàng hóa dịch vụ đảm bảo chất lượng thì người ta gọi nó là bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm còn bảo lãnh thực hiện hợp đồng chỉ liên quan đến bảo hành máy móc thiết bị thì người ta gọi nó là bảo lãnh bảo hành.
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: Là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước mà không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì ngân hàng sẽ thực hiện trả thay. Mục đích: tiền ứng trước vừa giúp bên cung cấp có một phần vốn để sản xuất kinh doanh, vừa có tác dụng ràng buộc người mua phải mua hàng đã 7 đặt. Tuy nhiên, để đề phòng người cung cấp không cung cấp hàng đồng thời lại không trả tiền ứng trước, bên mua yêu cầu bên cung cấp phải có bảo lãnh của ngân hàng về việc sẽ trả tiền ứng trước.
* Theo phương thức phát hành bảo lãnh - Bảo lãnh trực tiếp: Là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng trực tiếp phát hành bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh. Bên được bảo lãnh chịu trách nhiệm hoàn trả tiền trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh khi rủi ro xảy xa.2: Bảo lãnh trực tiếp trong trường hợp không có ngân hàng thông báo (1) : Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng cơ sở, làm phát sinh nghĩa vụ cần được bảo lãnh. (2) : Bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành thư bảo lãnh. (3) : Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho bên bảo lãnh.
Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh ở quốc gia khác với bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có thể yêu cầu ngân hàng phục vụ mình đóng vai trò là ngân hàng thông báo. Vai trò của ngân hàng thông báo thư bảo lãnh chỉ dừng lại ở việc xác nhận và chuyển tiếp trung thực thư bảo lãnh đến bên nhận bảo lãnh. Ngân hàng thông báo không cam kết bất cứ một nghĩa vụ nào về việc thanh toán theo nội dung của thư bảo lãnh.3: Bảo lãnh trực tiếp trong trường hợp có ngân hàng thông báo (1) và (2): nội dung như đối với trường hợp không có ngân hàng thông báo. (3) : Ngân hàng phục vụ bên được bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh và đề nghị ngân hàng phục vụ bên nhận bảo lãnh thông báo và chuyển nội dung thư bảo lãnh tới bên nhận bảo lãnh.
(4) : Ngân hàng thông báo thực hiện thông báo và chuyển nội dung thư bảo lãnh tới bên nhận bảo lãnh. Loại bảo lãnh này có đặc điểm là chịu sự chi phối của luật quốc gia và khi hết hạn có thể trực tiếp tất toán với người được bảo lãnh mà không cần có sự hoàn trả thư bảo lãnh. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh ở các quốc gia khác nhau thì loại bảo lãnh này có ưu và nhược điểm sau: Ưu điểm: người được bảo lãnh không phải mất thêm chi phí hoa hồng cho ngân hàng đại lý nước ngoài. Nhược điểm: rủi ro cho bên nhận bảo lãnh vì thủ tục đòi tiền rất phức tạp và không an toàn.
- Bảo lãnh gián tiếp: Bảo lãnh gián tiếp còn được gọi là bảo lãnh đối ứng là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng chỉ thị (ngân hàng phục vụ bên được bảo lãnh) phát hành 9 thư bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng phát hành và chỉ thị cho ngân hàng này phát hành thư bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.4: Bảo lãnh gián tiếp (1) : Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng cơ sở, làm phát sinh nghĩa vụ cần được bảo lãnh. (2) : Bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình ra chỉ thị cho ngân hàng phục vụ bên nhận bảo lãnh phát hành bảo lãnh. (3) : Ngân hàng phục vụ bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ bên nhận bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh kèm thư bảo lãnh đối ứng. (4) : Ngân hàng phục vụ bên nhận bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh, thông báo và chuyển nội dung thư bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.
Đối với loại bảo lãnh này thì người được bảo lãnh không có trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành, mà ngân hàng chỉ thị sẽ chịu trách nhiệm bồi hoàn cho ngân hàng phát hành theo nội dung trong thư bảo lãnh đối ứng (thư bảo lãnh đối ứng có nội dung và các điều khoản quy định như trong thư bảo lãnh chính). Sau khi đã bồi hoàn cho ngân hàng phát hành, đến lượt mình ngân hàng chỉ thị lại có quyền truy đòi bồi hoàn từ bên được bảo lãnh. Loại bảo lãnh này thường được áp dụng trong trường hợp người nhận bảo lãnh mong muốn thư bảo lãnh được một ngân hàng có trụ sở tại nước mình phát hành để thuận tiện trong việc giao dịch hoặc đòi tiền sau này. 10 - Đồng bảo lãnh: Đồng bảo lãnh là việc nhiều ngân hàng cùng bảo lãnh cho một nghiệp vụ bảo lãnh thông qua một ngân hàng đầu mối.
Đồng bảo lãnh được áp dụng trong các giao dịch kinh tế, thương mại lớn, khả năng xảy ra rủi ro cao hoặc Chính phủ và Ngân hàng nhà nước có quy định về hạn mức bảo lãnh tối đa của tổ chức tín dụng cho một khách hàng (ở Việt Nam tổng số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng). Khi đó, họ sẽ kêu gọi nhiều ngân hàng khác cùng tham gia để phân tán rủi ro cũng như không vi phạm các quy định của pháp luật. Trong số các ngân hàng tham gia đồng bảo lãnh sẽ chọn ra một ngân hàng đứng ra làm ngân hàng đầu mối.