chương 1. Từ chàng luật sư tương lai Nguyễn Đình Tú sinh ngày 7 tháng 7 năm 1974 trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Ông và cha Nguyễn Đình Tú từng tham gia kháng chiến chống Pháp; rồi anh trai của Nguyễn Đình Tú cũng “gác bút nghiên” lên đường chiến đấu, đánh đuổi đế quốc Mỹ. Truyền thống ấy đã góp phần hun đúc ở Nguyễn Đình Tú một tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc sâu sắc; đồng thời giúp anh gắn bó sâu nặng với môi trường quân đội, ngay cả khi anh đã trở thành một nhà văn.
Còn trước đó, Nguyễn Đình Tú từng gia nhập quân ngũ với mong muốn đem sức trẻ của mình phụng sự tổ quốc, nối bước cha ông. Những năm tháng rực rỡ của đời lính không chỉ rèn giũa cho Nguyễn Đình Tú sự can trường, quả cảm; mà còn giúp anh thấu hiểu nỗi vất vả, hi sinh của các chiến sĩ trong công cuộc gìn giữ độc lập, chủ quyền đất nước. Phải chăng đây cũng là nguyên cớ khiến Nguyễn Đình Tú “dan díu” với mảng đề tài chiến tranh, và anh thực sự có một cái nhìn độc đáo, sâu sắc về nó. Những điều đáng nói về cuộc đời nhà văn Nguyễn Đình Tú thì rất nhiều.
Tuy nhiên, do dung lượng luận văn không cho phép. Hơn nữa, để phục vụ trực tiếp cho mục đích nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin dừng lại nói về một công việc từng gắn bó, đồng thời là niềm đam mê của Nguyễn Đình Tú đó là tư pháp. Có thể nói, công việc này chi phối không nhỏ đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Tú sau này. Nguyễn Đình Tú từng chia sẻ, trước khi chính thức bước vào con đường văn nghiệp, anh từng mơ ước trở thành luật sư để bảo vệ công lý, lẽ phải.
Vì thế, Nguyễn Đình Tú đã dành bốn năm dùi mài kinh sử trên giảng đường Đại học Luật Hà Nội. Ra trường, Nguyễn Đình Tú may mắn được nhận vào làm việc tại Viện kiểm sát quân sự thuộc Bộ tư lệnh quân khu 3 (đây là lần gắn bó thứ 13 hai với môi trường quân đội của Nguyễn Đình Tú). Trong vai trò mới - sĩ quan quân pháp - Nguyễn Đình Tú vô cùng háo hức, muốn được bắt tay ngay vào công việc, vì đó là công việc mà như anh tâm sự: “Có sức cuốn hút kỳ lạ: Liên quan đến sinh mệnh, chính trị của con người ! Nói một cách đơn giản hơn là công việc liên quan đến số phận con người, đến giam, giữ, hỏi cung, xét xử và thi hành án. Đến tội và tình.
Đến may và rủi. Đến khốn khổ khốn nạn của kiếp người” (Nguyễn Đình Tú, 2012). Thế nên, công việc ấy đòi hỏi người thực thi nó phải vô cùng nghiêm cẩn, tinh nhạy, sắc bén, và tận tâm với nghề, với người. Nguyễn Đình Tú đã làm tốt điều đó.
Trong suốt thời gian công tác tại Viện kiểm sát, anh đã gặp đủ loại tội phạm và kinh qua vô vàn cung bậc cảm xúc khi chạm đến ranh giới rung rợn giữa sự sống và cái chết, “nhân quyền và dân quyền của những cá thể người” (Nguyễn Đình Tú, 2012). Nguyễn Đình Tú bóc tách, nghiệm suy để hiểu cái căn nguyên gây nên tội của các phạm nhân nhằm mang đến những kết luận khách quan, chân thật. Và cũng nhờ đó, anh hiểu hơn về thế giới tội phạm. Cũng cần nói thêm, mục đích nghề nghiệp mà Nguyễn Đình Tú hướng đến không giản đơn chỉ xét xử những kẻ phạm tội, mà quan trọng hơn là cảnh tỉnh, răn đe, ngăn chặn kịp thời cái xấu, cái ác để chúng không còn có cơ hội hoành hành, phát triển.
Thế nên, mỗi lần tiếp xúc với phạm nhân, anh đều lắng nghe, sẻ chia và ghi chép cẩn trọng từng vụ án, nhằm thấu hiểu mọi ngóc ngách trong từng số phận, để công lý được thực thi một cách trọn vẹn, thấu tình đạt lý. Có thể nói, càng đi sâu tìm hiểu công việc điều tra tội phạm của Nguyễn Đình Tú, chúng ta càng thấy tính chất phức tạp, nguy hiểm của nó; đồng thời, giúp chúng ta hiểu hơn con người Nguyễn Đình Tú. Nhân danh là người thực thi công lý, nhưng ở anh không có vẻ lạnh lùng của một người sống bằng luật, mà có một trái tim ấm nóng, đầy suy tư của một nhà văn. Những cứ liệu Nguyễn Đình Tú ghi chép được về những phạm nhân anh từng tiếp xúc (sau này in thành bút kí Trong tù ngoài tội) là những trang văn thấm đẫm máu và nước mắt.
Đọc Trong tù ngoài tội, ta thấy rõ Nguyễn Đình Tú luôn có thái độ trân trọng với những con người kia. Dù họ phạm tội gì và bị xử mức án như thế nào đi nữa - cải tạo hay tử hình - thì anh tuyệt nhiên không khinh thường, kinh sợ, vẫn xem họ là một con 14 người. Và để đáp trả, những phạm nhân cũng mở lòng với anh và tìm thấy sự sẻ chia, đồng cảm. Từ tâm thế đó, Nguyễn Đình Tú cứ lần lượt bước vào những trang đời phạm nhân với vô vàng sắc thái cảm xúc, và nhận ra ở những con người ấy tuy có những nguyên cớ phạm tội khác nhau, song chung quy đều do nghịch cảnh phận người.
Sự ám ảnh về thế giới tội phạm ở Nguyễn Đình Tú ngoài nguyên nhân chính xuất phát từ công việc điều tra của anh, còn do sự tác động của môi trường sống. Nguyễn Đình Tú sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Kiến An, Hải Phòng. Ngoài danh xưng là thành phố Hoa phượng đỏ, Hải Phòng còn được biết đến với một danh xưng khác không mấy tự hào: “vùng đất dữ”. Bởi nơi đây từng là lò đào luyện những tên giang hồ khét tiếng.
Nhiều người cho rằng, căn nguyên sâu xa của sự thật không lấy gì làm tự hào này là do Hải Phòng vốn là vùng đất cảng, dân tứ tụ tập về đây để tìm kế sinh nhai. Muốn có miếng ăn, họ phải tranh giành, đấu đá, thậm chí giết hại nhau. Thêm nữa, tính cách của người Hải Phòng vốn hiếu chiến, ngang tàn, từ đó sinh ra lắm kẻ “anh chị”. Nguyễn Đình Tú đã từng nói bóng gió điều này trong tiểu thuyết Phiên bản: “Đất này dữ, trai gái đều thành nghịch tặc cả” (Nguyễn Đình Tú, 2009).
Đến đây, chúng tôi có thể khẳng định truyền thống cách mạng của gia đình, công việc tư pháp và mảnh đất quê hương là ba trụ cột quan trọng góp phần hun đúc nhân cách cho Nguyễn Đình Tú, đồng thời, trang bị cho anh một vốn sống, vốn kiến thức về lịch sử, văn hóa, xã hội phong phú, chân thật. Để rồi sau đó, khi bước vào ngã rẻ văn chương, Nguyễn Đình Tú đã khai thác chúng một cách khéo léo, hữu hiệu tạo nên những trang văn mang đậm hơi thở cuộc sống và rất đỗi diệu kì. Đến nhà văn chuyên nghiệp Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Tú vốn là một sĩ quan quân pháp. Công việc tư pháp cứ ngỡ sẽ gắn bó với anh đến suốt cuộc đời.
Thế nhưng, sau một thời gian miệt mài với những câu chuyện “trong tù ngoài tội”; Nguyễn Đình Tú đã quyết định đến với văn chương chuyên nghiệp “chỉ vì muốn được thoải mái xê dịch cả về địa lý lẫn trí tưởng tượng” (Hoàng Nhân, 2015). Thực ra, khát vọng xê 15 dịch về địa lý thì công việc tư pháp cũng đã giúp anh làm được điều này, bởi anh phải đi rất nhiều để thu thập chứng cứ. Song, để thỏa trí tưởng tượng trước cái hiện thực thậm phồn mà mình thu nhận được thì đặc thù công việc tư pháp không cho phép, trái lại, nó đòi hỏi sự chân xác, khách quan. Thế nên, Nguyễn Đình Tú quyết định tìm đến văn chương để phóng chiếu trí tưởng tượng của mình trên cơ sở hiểu biết, trải nghiệm của bản thân.
Việc Nguyễn Đình Tú đến với văn chương không chỉ có thế, mà trong sâu xa anh đã có duyên nợ với chữ nghĩa. Ngay từ những ngày còn là chàng sinh viên trường luật, Nguyễn Đình Tú đã “dan díu” với nàng thơ, rồi sau đó là truyện ngắn. Và duyên may cũng đã đến với anh, trong một lần báo Tiền Phong tổ chức cuộc thi Tác phẩm Tuổi xanh, Nguyễn Đình Tú đã mạnh dạn tham gia và ẳm luôn giải thưởng cho mình. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Nguyễn Đình Tú không hề nghĩ mình sẽ dấn thân vào con đường văn chương chuyên nghiệp, bởi anh đang có một đam mê khác lớn hơn, đó là theo đuổi ngành luật học.
Sau khi tốt nghiệp đại học, Nguyễn Đình Tú đã tìm được cho mình một công việc như ý - cán bộ tư pháp. Và anh gần như dốc hết tâm sức cho công việc này bởi nó không chỉ là niềm đam mê mà còn liên quan đến sự sống chết, tù tội của một con người. Vì lẽ đó, Nguyễn Đình Tú không dành được nhiều thời gian để vun đắp cho “cuộc tình” văn chương của mình. Song không có nghĩa anh hoàn toàn bỏ bê nó.
Nói khác đi, Nguyễn Đình Tú vẫn thỉnh thoảng “vụng trộm” với văn chương, và từ đó cho ra đời một số tập truyện ngắn có sức “Thanh tẩy” tâm hồn người đọc. Có thể nói, với Nguyễn Đình Tú, văn chương là một duyên nợ; dù mối duyên nợ ấy không “xuôi chèo mát mái”, phải trả qua nhiều thách thức, nhưng cuối cùng nó có một kết thúc đẹp. Năm 2000, Nguyễn Đình Tú đã quyết định từ bỏ tất cả để dành toàn bộ thời gian, trí tuệ, tâm sức cho văn chương. Cũng năm đó, Nguyễn Đình Tú về đầu quân cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội, đánh dấu một bước ngoặc mới trong cuộc đời của anh, từ một sĩ quan quân pháp trở thành một nhà văn quân đội.
16 Đi vào con đường văn chương chuyên nghiệp, quả thực, là một sự lựa chọn đúng đắn của Nguyễn Đình Tú. Bởi chỉ trong một thời gian ngắn, anh đã khẳng định được tên tuổi của mình trong làng văn thông qua nhiều giải thưởng văn học có giá trị, hơn nữa, được giới nghiên cứu, phê bình đánh giá cao và chiếm trọn tình cảm của độc giả. Tuy nhiên, để có thành công đó là cả một sự nổ lực, sáng tạo không ngừng nghỉ của Nguyễn Đình Tú; thậm chí đôi khi anh phải đánh đổi, buông bỏ nhiều thứ kể cả quyền lực, chức sắc - thứ có thể giúp con người ta sống đủ đầy. Nói về vấn đề này, Nguyễn Đình Tú chia sẻ: “15 năm trước, mình vừa đủ chán chê nghề luật để chuyển sang nghề văn.
Còn bây giờ, mình vừa đủ chán làm quản lý ở một cơ quan văn chương để chuyển sang làm cán bộ sáng tác - một kiểu nhân viên đặc biệt của cơ quan này.