Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê nhân khẩu học, đồng bào dân tộc Tày chiếm 52,93% dân số toàn tỉnh Bắc Kạn và đại diện cho hơn 86,7% tổng số cư dân thuộc các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm định cư tại các thung lũng vùng Đông Bắc, người Tày đã kiến tạo nên hệ thống tín ngưỡng truyền thống độc đáo, hòa quyện giữa thế giới quan vạn vật hữu linh và đạo lý nhân sinh sâu sắc. Tuy nhiên, trước làn sóng đô thị hóa và kinh tế thị trường, đời sống tâm linh của cộng đồng đang đứng trước nguy cơ biến đổi mạnh mẽ: khoảng 38% các làn điệu nghi lễ cổ truyền bị suy giảm tần suất thực hành, trong khi các hiện tượng lệch chuẩn tâm linh có chiều hướng gia tăng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học của tác giả Lục Thùy Liên tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để phân định rạch ròi, bảo tồn và phát huy các hạt nhân hợp lý, tiến bộ trong tín ngưỡng truyền thống của người Tày, đồng thời từng bước xóa bỏ các yếu tố hủ tục, mê tín dị đoan. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 8 đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Kạn (gồm thị xã Bắc Kạn và 7 huyện: Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn, Pắc Nặm) với mốc thời gian khảo sát trọng tâm từ năm 2005 đến năm 2013 và định hướng phát triển hiện nay.

Ý nghĩa khoa học của đề tài thể hiện ở việc lượng hóa tác động của tín ngưỡng đối với việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kết quả nghiên cứu là luận cứ trực tiếp giúp địa phương nâng cao từ 25% đến 30% hiệu quả quản lý văn hóa cơ sở, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trọng tâm là nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen, chỉ rõ tín ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội phản ánh điều kiện kinh tế, sinh hoạt vật chất của cư dân nông nghiệp thung lũng. Đồng thời, đề tài kế thừa lý luận tôn giáo học hiện đại của các nhà nghiên cứu đầu ngành như Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh về chức năng đền bù hư ảo, chức năng liên kết cộng đồng và chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức.

Hệ thống khái niệm công cụ được chuẩn hóa gồm bốn phạm trù trọng tâm:

  1. Tín ngưỡng truyền thống: Hệ thống niềm tin, sự ngưỡng vọng vào các lực lượng siêu nhiên được lưu truyền qua nhiều thế hệ gắn liền với phong tục, tập quán bản địa.
  2. Thế giới quan tam giới: Quan niệm vũ trụ phân tầng của người Tày gồm Mường Trời (nơi ở của Ngọc Hoàng, Mẹ sinh sản), Mường Đất (không gian sinh tồn của con người) và Mường Nước (nơi ngự trị của các lực lượng thủy thần, ma quỷ).
  3. Hồn vía (Khoăn) và Linh hồn (Phi): Hệ thống phạm trù tâm linh giải thích sự sống, cái chết và sự kết nối giữa người sống với tổ tiên.
  4. Thực hành nghi lễ dân gian: Chuỗi nghi thức Then, Mo, Pụt, Tào đóng vai trò cầu nối giao tiếp tâm linh và diễn xướng nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 45 công trình nghiên cứu, văn kiện của Đảng, báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát điền dã dân tộc học tại các địa bàn trọng điểm như huyện Ba Bể, Chợ Đồn và Na Rì.
  • Quy mô và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu khảo sát gồm 320 phiếu trưng cầu ý kiến người dân được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên theo độ tuổi, giới tính và địa bàn cư trú; kết hợp 25 cuộc phỏng vấn sâu với các nghệ nhân dân gian, thầy Then, thầy Mo và cán bộ quản lý văn hóa xã.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp logic và lịch sử với điều tra xã hội học định lượng giúp đánh giá chính xác thực trạng, hạn chế tính chủ quan và làm sáng tỏ quy luật biến đổi tâm lý xã hội của tộc người trong giai đoạn 2005 - 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực địa đã ghi nhận bốn phát hiện quan trọng về thực trạng đời sống tín ngưỡng của người Tày tại tỉnh Bắc Kạn:

+-----------------------------------------------------------------------------+
| BẢNG SO SÁNH MỨC ĐỘ THỰC HÀNH VÀ NHẬN THỨC TÍN NGƯỠNG NGƯỜI TÀY BẮC KẠN    |
+------------------------------------+------------------+---------------------+
| Tiêu chí khảo sát thực tế          | Tỷ lệ ghi nhận   | Ý nghĩa thực tiễn   |
+------------------------------------+------------------+---------------------+
| Duy trì thờ cúng tổ tiên gia đình  | 98,5%            | Cố kết gia tộc      |
| Nhận thức Then là di sản văn hóa   | 76,8%            | Tự hào bản sắc      |
| Hiểu biết nghi lễ ở nhóm >50 tuổi  | 89,4%            | Bảo lưu truyền thống|
| Hiểu biết nghi lễ ở nhóm 18-30 tuổi| 31,6%            | Nguy cơ đứt gãy     |
| Đánh giá tích cực hội Lồng tồng    | 92,1%            | Đoàn kết cộng đồng  |
+------------------------------------+------------------+---------------------+

Thứ nhất, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ Mẹ sinh sản (Mẻ Bióc) giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối với 98,5% hộ gia đình lập bàn thờ tôn nghiêm trong nhà sàn. Có tới 84,2% người dân duy trì tập tục buộc chỉ cổ tay cầu an và làm lễ giải hạn cho trẻ nhỏ, minh chứng cho sức sống bền bỉ của đạo lý "uống nước nhớ nguồn".

Thứ hai, cấu trúc nhận thức về các hình thức Then, Mo, Pụt, Tào có sự phân hóa sâu sắc. Khoảng 76,8% người được hỏi khẳng định Then là loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian đặc sắc cần được tôn vinh, nhưng vẫn còn khoảng 18,3% trường hợp người dân tin vào khả năng trừ tà, chữa bệnh thần bí, dẫn đến việc lãng phí tiền của cho các khóa lễ kéo dài.

Thứ ba, xuất hiện sự đứt gãy thế hệ rõ rệt trong tiếp nhận văn hóa tín ngưỡng. Nếu nhóm tuổi trên 50 đạt tỷ lệ hiểu biết sâu về ý nghĩa nghi lễ là 89,4%, thì tỷ lệ này ở thanh niên từ 18 đến 30 tuổi chỉ đạt 31,6%, tức sụt giảm tới 57,8%. Nguy cơ mai một chữ Nôm Tày và các bài cúng cổ truyền là rất hiện hữu.

Thứ tư, các lễ hội tín ngưỡng nông nghiệp như Lễ hội Lồng tồng (xuống đồng), Tết Thanh minh (3/3 âm lịch) và Tết vía trâu (6/6 âm lịch) thu hút 92,1% dân cư tham gia, đóng vai trò như chất keo gắn kết tình làng nghĩa bản và kích thích tinh thần hăng say lao động sản xuất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những chuyển biến trên bắt nguồn từ sự tương tác phức tạp giữa điều kiện kinh tế - xã hội vùng cao và sự xâm nhập của lối sống hiện đại. Khi mức sống của người dân tại 123 xã phường được cải thiện, nhu cầu tâm linh gia tăng nhưng lại thiếu không gian thực hành chuẩn mực. Sự thiếu hụt các lớp truyền dạy đàn Tính, hát Then khiến thế hệ trẻ dần xa rời cội nguồn văn hóa.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, tín ngưỡng người Tày ở Bắc Kạn vẫn bảo lưu được tính nguyên sơ của các pho Then cổ do địa hình núi cao chia cắt. Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn dưới dạng biểu đồ cột phân tầng thế hệ sẽ làm nổi bật khoảng trống chuyển giao tri thức bản địa. Về mặt triết học, tín ngưỡng truyền thống không chỉ mang giá trị tâm linh thuần túy mà thực chất là "bộ nhớ văn hóa", nơi tích hợp kho tàng văn học dân gian, y học cổ truyền, kiến trúc và âm nhạc dân tộc Tày.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa các giá trị tích cực và ngăn chặn sự biến tướng tiêu cực trong sinh hoạt tâm linh, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất gồm:

  1. Chuẩn hóa công tác kiểm kê và số hóa di sản: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn chủ trì rà soát 100% nghệ nhân Then, Mo, Pụt trên địa bàn 8 huyện thị, hoàn thành đề án số hóa 150 bộ sách cúng cổ bằng chữ Nôm Tày trong lộ trình giai đoạn 2024 - 2026.
  2. Đưa nghệ thuật Then - đàn Tính vào trường học: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Kạn triển khai chương trình giáo dục di sản địa phương tại 100% trường phổ thông dân tộc nội trú, đặt chỉ tiêu 80% học sinh người Tày nắm vững kỹ năng hát Then cơ bản trước năm 2026.
  3. Phục dựng lễ hội gắn với chuẩn mực nếp sống mới: Ủy ban nhân dân các xã và thị trấn tiến hành phục dựng nguyên bản phần lễ và phần hội của Lễ hội Lồng tồng tại 100% các địa bàn trung tâm, kiên quyết xử lý, giảm thiểu 100% các biểu hiện bói toán trá hình và cờ bạc trong mùa lễ hội.
  4. Phát triển mô hình du lịch di sản cộng đồng: Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng 6 mô hình du lịch văn hóa trải nghiệm Then - Pụt tại khu vực hồ Ba Bể và Chợ Đồn, phấn đấu nâng thu nhập bình quân của nghệ nhân dân gian tăng 35% vào năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung toàn diện của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Cán bộ quản lý văn hóa và tôn giáo: Giúp 100% đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã nắm chắc phương pháp luận xử lý mềm dẻo các vấn đề tín ngưỡng dân tộc thiểu số, hỗ trợ hoạch định chính sách quản lý lễ hội đạt chuẩn văn minh.
  2. Nhà nghiên cứu dân tộc học và triết học văn hóa: Cung cấp hệ thống tư liệu thực địa với hơn 300 mẫu khảo sát chi tiết về các nghi thức Then, Mo, Pụt, đóng vai trò nguồn tài liệu đối chiếu cho các công trình nghiên cứu văn hóa vùng Đông Bắc.
  3. Giảng viên và sinh viên các trường đại học: Phục vụ trực tiếp việc giảng dạy, học tập trong ít nhất 4 học phần chuyên ngành gồm: Triết học tôn giáo, Dân tộc học Việt Nam, Xã hội học văn hóa và Lịch sử tư tưởng Việt Nam.
  4. Nghệ nhân dân gian và các câu lạc bộ bảo tồn văn hóa: Định hướng phương pháp truyền dạy chuẩn xác các làn điệu Then cổ, bảo lưu cấu trúc âm nhạc và thi ca truyền thống cho thế hệ tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Tín ngưỡng Then của người Tày có phải là mê tín dị đoan không?

Không. Về bản chất khoa học và văn hóa, Then là hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp tích hợp âm nhạc, múa, thi ca và nghi lễ phản ánh ước vọng an lành. Chỉ những hành vi lợi dụng Then để trục lợi kinh tế, phán truyền chữa bệnh sai khoa học mới bị coi là biến tướng tiêu cực.

Người Tày quan niệm thế nào về nguồn gốc vũ trụ và con người?

Người Tày quan niệm vũ trụ chia làm ba cõi gồm Mường Trời, Mường Đất và Mường Nước. Con người khi sống có phần hồn (khoăn), khi chết hóa thành linh hồn (phi). Thế giới quan này quy định hệ thống nghi lễ thờ phụng nhằm duy trì sự cân bằng âm dương và hòa hợp sinh thái tự nhiên.

Điểm khác biệt cơ bản giữa tín ngưỡng và tôn giáo trong luận văn là gì?

Tín ngưỡng mang tính dân gian phân tán, chưa có hệ thống giáo lý kinh viện, giáo hội chặt chẽ và thần điện cố định như tôn giáo. Tín ngưỡng Tày gắn trực tiếp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp và phong tục tập quán làng bản tại địa bàn cư trú.

Tỷ lệ người Tày tại Bắc Kạn ảnh hưởng như thế nào đến bản sắc văn hóa địa phương?

Với tỷ lệ chiếm 52,93% tổng dân số tỉnh Bắc Kạn, dân tộc Tày giữ vai trò chủ thể kiến tạo nền tảng văn hóa vùng đất này. Các phong tục, tập quán, làn điệu Then và lễ hội Lồng tồng của người Tày có sức lan tỏa và chi phối mạnh mẽ đến các cộng đồng dân tộc cùng chung sống.

Làm sao để ngăn chặn tình trạng mai một nghi lễ tín ngưỡng ở giới trẻ?

Giải pháp đột phá là chuyển đổi phương thức bảo tồn từ thụ động sang chủ động: đưa Then vào học đường, thành lập các không gian văn hóa số trên nền tảng mạng xã hội và kết hợp bảo tồn di sản với phát triển du lịch homestay mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho thanh niên địa phương.

Kết luận

  • Tín ngưỡng truyền thống của người Tày tại tỉnh Bắc Kạn (chiếm 52,93% dân số) là di sản tinh thần quý báu, phản ánh chiều sâu văn hóa và đạo lý cố kết cộng đồng sâu sắc.
  • Luận văn đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa duy vật lịch sử để chỉ rõ tính tất yếu của việc phát huy giá trị tích cực và sàng lọc hủ tục trong thời kỳ đổi mới.
  • Khảo sát thực địa làm sáng tỏ nguy cơ đứt gãy thế hệ khi tỷ lệ hiểu biết nghi lễ ở thanh niên sụt giảm 57,8% so với người cao tuổi, đòi hỏi hành động khẩn cấp.
  • Đề tài xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về quản lý nhà nước, giáo dục nhà trường, thực hành lễ hội và kinh tế du lịch di sản.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn 2024 - 2028 hướng tới số hóa 100% thư tịch cúng cổ và chuẩn hóa các câu lạc bộ Then bản địa.

Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng Tày đòi hỏi sự vào cuộc trách nhiệm của các cơ quan quản lý và toàn thể cộng đồng. Độc giả quan tâm và các nhà nghiên cứu hãy cùng chia sẻ, tham khảo toàn văn công trình để chung tay gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.