Chương 1. Tỗng quan tình hình nghiên cứu. muốn này lại được xác định bằng khả năng đạt được sự thỏa mãn ở chủ thể đó, hay, giá trị không tách rời khỏi nhu câu. Trong những công trình nghiên cứu về giá trị, các tác giả De Dreu and Boles (1998), Van Lange and Liebrand (1989), Sagiv, Sverdlik, Schwartz, Bardi (2003), Feather (1995), Knafo Daniel and Khoury - Kassabri (2008), Maio, Pakizeh, Cheung va Rees (2009), Sagiv, Sverdlik, Verplanken va Holland (2002) đều cho rang: “Giá trị là một khái niệm cốt lõi của nhân cách, có ảnh hưởng đến cách nhận thức sáng tỏ những sự kiện, những tình huống, cũng như thái độ, sự quyết định, sự lựa chọn và hành vi của cá nhân.
Như vậy, theo các tác giả, giá trị không tách rời khỏi nhân cách, nó gắn liền với tính tích cực của nhân cách, hay, giá trị được biểu hiện thông qua các mặt nhận thức, thái độ và hành vi của nhân cách”. Những thập kỷ cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế ky XXI các tác gia Inglehart, Williams, Strodtbeck, Dorfman, Baker, Minkov, Smith, Dugan. đều đưa ra nhận định: “Giá trị thường được nhóm vào và khó tách biệt với các khái niệm khác như: niềm tin, thái độ, thế giới quan, động cơ,. Nói cách khác, theo quan niệm của các tác giả, giá trị có mối quan hệ chặt chẽ với xu hướng nhân cách”.
Julie Anne Lee, Geoffrey, N. Louviere (2011), “Schwartz Values Clusters in the United Đắc, GIÁ TR] SONG CUA NGƯỜI GIA VIỆT NAM Trong tac phẩm: “Bản chất của những giá trị con người”, Milton Rokeach đã khang định: “Giá trị là một khái niệm động, phân biệt rõ ràng nhưng cũng dễ bị nhằm lẫn với những khái niệm thái độ, quy tắc xã hội và nhu cau, vì giá trị có mối liên hệ hệ thống với những khái niệm này”. Cũng trong tác phẩm này, tác giả đưa ra 5 giả thuyết về bản chất của những giá trị con người, cụ thể là: 1) tổng giá trị mà một người lĩnh hội, tiếp thu được là tương đối hạn chế; 2) con người ở bất kì đâu trên thế giới đều tiếp thu, lĩnh hội những giá trị giống nhau, nhưng ở mức độ khác nhau; 3) các giá trị được sắp xếp thành hệ thống giá trị; 4) những giá trị của con người có thể được chia thành những gia tri văn hóa, giá tri xã hội và những thể chế của nó và nhân cách; 5) kết quả nghiên cứu về những giá trị của con người được xuất hiện trong hầu hết các hiện tượng, do vậy, các nhà khoa học xã hội có thé tiến hành những cuộc điều tra liên quan đến giá trị cũng như nhận thức về nó. Milton Rokeach cũng đã đề cập đến hai loại giá trị, đó là: giá trị công cụ (gồm những giá trị cá nhân và giá trị xã hộ!) và gia trị định danh (gồm những giá tri năng lực và giá trị đạo đức).
Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm giá trị như là niềm tin sâu sắc vào cách thức thể hiện hành vi hoặc kết States anh China”, Journal of Cross - Cultural Psychology (2), pp. Téng quan tình hình nghiên cứu. thúc một trạng thái hiện hữu của cá nhân hay xã hội, tương thích với biến đổi của chuẩn mực do xã hội đặt ra. Nhu vậy, giá trị có mối quan hệ khó tách biệt với chuẩn mực, chât lượng sông, nhu cầu, niềm tin, thái độ, thế ĐIỚI quan, động cơ,.
của con người. - Nghiên cứu tính ôn định tương đổi của giá trị Khi tiến hành nghiên cứu về giá trị, có khá nhiều tác giả quan tâm đến tính ôn định tương đối của nó: Milton Rokeach (1973), Shalom Schwartz và Sagiv (1995) khang định, giá trị mang tinh ôn định tương đối, tuy nhiên, giá trị có thé thay đôi trong từng quãng đời của con người. Bardi và Goodwin đã khăng định: “Giá trị có thể thay đổi theo hai hướng chính hoặc theo hướng tự động hóa hoặc theo một sự cố gắng có ý thức”. Từ đó các tác giả đã đưa ra năm thành tố tạo điều kiện thuận lợi cho sự thay đổi giá trị, đó là: sự chỉ dẫn, sự thích nghi, sự đồng nhất hóa, sự cưu mang - cung phụng, sự tin tưởng tuyệt đối.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đặt ra câu hỏi, giá trị văn hóa nào đã làm giảm sự ảnh hưởng của từng thành tố trên. Các tác gia Danis, Liu và Vacek khảo sát những anh hưởng của hoàn cảnh xã hội đối với sự thay đôi giá trị giữa các cá nhân trong Cộng hòa Séc ở các thời kỳ khác nhau. Milton Rokeach (2001), The nature of Human Values, The Free Press New York, Collier Macmillian Punlisher London. 27 GIÁ TRỊ SÔNG CỦA NGƯỜI GIÀ VIỆT NAM Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoàn cảnh lịch sử có vai trò quan trọng trong việc giải thích sự khác nhau về giá trị giữa các thế hệ trong xã hội; người dân dé cao những giá trị hướng tới sự duy trì và tự đề cao bản thân.
Alan Tonkin (2009) cho ra đời tác phẩm: “Cac giá trị trong thé kỷ XXI”, tác phẩm nay, đã dé cập đến các giá trị mang tinh toàn cầu, nhằm giải quyết các van đề phức tạp ngày nay, đó là: giá trị tập thé; giá trị cá nhân va giá tri cùng hành động. Như vậy, giá trị của con người, xã hội cộng đồng, dân tộc không nhất thành bat biến mà có thé thay đôi trong từng thời kì lịch sử - xã hội khác nhau. Nghiên cứu giá trị sống Bên cạnh những công trình nghiên cứu về giá tri, gia tri sông dân dân được quan tâm nghiên cứu, cụ thê dưới đây: Những công trình nghiên cứu về giá trị sống được các tác giả trường Đại học tâm linh thế giới mang tên Brahma Kumaris (An Độ) nghiên cứu từ năm 1937, chủ yếu đề cập đến giá trị tinh thần và giá trị đạo đức, đây là những giá trị nên tảng đối với cuộc sống của mỗi người. Julie Anne Lee, Geoffrey, N.
Alex Quaison, Sackey (1995), Living values, a guide book. Published by Brahma Kumaris World Spiritual University. Tỗng quan tình hình nghiên cứu. Khi đề cập đến giá trị sống, Hiến chương Liên hợp quốc khăng định: nghiên cứu giá trị sống là đi xác nhận lòng tin vào những quyên cơ ban của con người, về phẩm chất và giá trị của con người, đi sâu tìm hiểu mặt thé chất, tinh thần, tình cảm và trí tuệ của con người.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập, trong bản Hiến chương của mình tổ chức UNESCO đã thừa nhận 12 giá trị sống chung, nền tảng của loài người trên toàn thế giới, đó là: hợp tác, tự do, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, tình yêu thương, hòa bình, tôn trọng, trách nhiệm, giản dị, khoan dung, đoàn kết. Tô chức này cũng khăng định: 12 giá trị sống nêu trên có những đóng góp vào sự thay đôi tích cực đối với từng cá nhân và toàn thế giới: hình thành và duy trì một thế giới hòa bình, an ninh và tiến bộ xã hội, thúc đây sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quyền con người trên thế giới; giúp cho mỗi người hiểu sâu sắc giá trị đích thực của bản thân để tự lựa chọn, tìm ra cách thức trở về với những giá trị cội nguồn, gốc rễ, qua đó vun đắp tâm hồn và giáo dục những giá trị dao đức; có cơ hội nhận ra tính có ích, có ý nghĩa, tầm quan trọng và suy ngẫm, hiểu biết, thực hành, đánh giá, đối chiếu chúng trong các khía cạnh của cuộc sống. Do đó, chúng có ảnh hưởng mạnh đến phương thức sống của mỗi người, nó trở thành động lực thúc đây hành vi của con người. Alex Quaison, Sackey (1995), Living values, a guide book.
Published by Brahma Kumaris World Spiritual University. 29 GIÁ TRỊ SÓNG CỦA NGƯỜI GIÀ VIỆT NAM Tác giả Diane Tillman kết hợp cùng với Liên hợp quốc và Ủy ban quốc gia UNICEF của Tây Ban Nha cùng các chuyên gia giáo dục UNICEF của New York sử dụng 12 giá trị sống của loài người được UNESCO công bố đã xuất ban tác phẩm: Những giá tri sống - một chương trình giáo dục dành cho trẻ từ 3 đến 14 tuôi. Qua chương trình này, mỗi trẻ có cơ hội được thực hành, trải nghiệm, phát hiện, phát triển những giá trị sống khác nhau, giúp trẻ suy nghĩ, xem xét và tạo điều kiện để chúng liên hệ với chính mình, với người khác và với cộng đồng, xã hội. Ngoài ra, khi tham gia chương trình giáo dục giá trị sống, trẻ có thể hiểu biết sâu sắc về động cơ và trách nhiệm có liên quan tới những sự lựa chọn của bản thân và xã hội một cách tích cực.
Bên cạnh đó, giúp các trẻ hiểu biết và lựa chọn những phương pháp thực hành dé khắc sâu và phát triển những giá trị sống của bản thân và của người khác, hướng tới những triết lý của cuộc sống, tạo điều kiện cho trẻ sự phát triển toàn diện, hòa nhập vào cộng đồng một cách tự tin và có mục dich.’ Như vậy, khi đề cập đến giá trị sống của con người, các nhà khoa học đều nhấn mạnh tính tích cực của chủ thé, không chỉ thông qua việc suy nghĩ, xem xét, đánh giá, thực hành, trải nghiệm những giá trị sống, mà còn phát hiện, 1. Diane Tillman (2000), Living Values Activeties for Young Adults, Health Communications, Inc., Deerfield Beach, Florida, USA. Tông quan tình hình nghiên cứu. phat triển giá trị song của ban thân và của những người khác, nhằm khắc sâu những giá trị sống trong cuộc sống thực của họ với những người xung quanh.
Trên cơ sở quan điểm của các nhà khoa học đưa ra nêu trên về các khía cạnh giá trị sống của con người nói chung, để tìm hiểu thực trạng giá trị sống của người già Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu. Giá trị cũng được khá nhiều tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu, trong đó, Phạm Minh Hạc là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến giá trị, giá trị sống của Con người: - Từ những năm 1973 đến 1977, trong luận án tiến sĩ khoa học với đề tài: “Hành vi và hoạt động”, tác giả đã quan tâm đến khoa học về giá trị. - Năm 1978, trong báo cáo khoa học: “Tam lý hoc va khoa học nghiên cứu con người”, tác giả khăng định, tâm lý học phải coi trọng giá tri và quy luật giá tri, coi đó là nội dung cơ bản của cuộc sống thực, trong trường tác động của quy luật giá tri, còn con đường nghiên cứu nó là nhân cách. Tâm lý, giá trị được hình thành từ hiện thực khách quan, nhưng hiện thực khách quan luôn luôn vận động và phát triển nên tâm lý, giá trị của con người cũng được phát triển.