mở đầu thường bằng cảnh triều đình đang nằm trong một trạng thái bình yên tương đối, tuy vua đã già yếu và mầm mống phản loạn đã có, tức là đã có phe phản thần do tên thái sư dẫn đầu. Đứng về kịch mà nói, thì như thế mâu thuẫn kịch đã có từ đầu. Sau đó vua băng hà, hoàng tử còn bé hoặc chưa được sinh. Tên gian thần kia bèn tiếm ngôi vua.
Cũng có trường hợp, bọn gian thần tiếm ngôi vua trong lúc vua còn sống nhưng yếu thế. Như thế là xung đột bắt đầu và phát triển. Tình thế ngày càng gay go, ác liệt. Bọn gian thần chiếm ngôi vua xong, xúc tiến mọi biện pháp hoặc thô bạo để trừ diệt dòng vua cũ hoặc trấn áp các phe phái đối lập.
Các trung thần trải qua rất nhiều hiểm nguy gian khổ, tìm mọi cách để cứu hoàng tử khỏi nanh vuốt của kẻ 9 thù, rồi đưa ra một nơi biên trấn, hiểm địa, chiêu binh mãi mã, sau đó dùng ngọn cờ danh nghĩa của hoàng tử về đánh hạ bọn chiếm ngôi để phục nghiệp cho dòng vua cũ. Trước khi đi đến thắng lợi cuối cùng, phe trung thần đã trải qua rất nhiều hy sinh gian khổ, kể cả thương vong, biểu hiện một khí tiết trung trinh, kiên cường vô hạn. Xã hội được phản ánh trong loại tuồng này là một xã hội phong kiến đã suy tàn, giai cấp phong kiến quan liêu đã chia bè xẻ cánh, tranh giành cấu xé lẫn nhau quyết liệt. Không những thế, ngay trong bản thân nhiều gia đình đại phong kiến cũng xảy ra những sự bất đồng chính kiến trầm trọng đi đến phân biệt cha con, giữa vợ chống, giữa anh chị em ruột,… Tuy thế các mối chia rẽ nói trên tựu chung chỉ có hai phe, một phe trung với dòng vua cũ, được xem là chính thống, và một phe phản thần.
Mâu thuẫn xã hội biểu hiện trong loại Tuồng này là mâu thuẫn phong kiến nội địa, không có ngoại xâm. Ngoại xâm nếu có cũng chỉ là chi tiết phụ và thông thường, chỉ là cái cớ để đưa tình tiết kịch phát triển. Bên cạnh dòng Tuồng cung đình, còn có dòng Tuồng ngoài cung đình. Dòng Tuồng ngoài cung đình bao gồm của các sĩ phu và dân gian.
Về sĩ phu phải kể đến từ tưởng yêu dân, yêu nước của Tống Phước Phổ và ý tưởng dùng nghệ thuật phục vụ nhân sinh được thể hiện rõ nét trong từng nội dung của những sáng tác Tuồng của ông. Ông đã dùng cây bút và sân khấu để làm sống lại những trang sử hào hùng của dân tộc ta về Trưng Nữ Vương, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Lục Vân Tiên. Ngoài ra, dòng Tuồng ngoài cung đình còn có các chủ đề như đề cao nho sinh, người nghèo (vở Kim thạch kỳ duyên: “Phú quý bát năng dâm, bản tiên bất năng đi, uy vũ bắt năng khát” hay đề cao anh hùng chống kẻ bạo ngược hung tàn được nhân dân ủng hộ và có kết cục hạnh phúc (vở Triệu Khánh Sanh), nêu cao khí tiết anh hùng, lòng khao khát và tình bạn chiến đấu, đề cao chữ hiếu chữ tình nhưng vẫn tròn chữ trung. Những chủ đề này mang tư tưởng tình cảm rất gần gũi với nhân dân, thoát khỏi không khí quân vương nặng nề, để cập nhiều hơn đến những mối quan hệ xã hội bình thường như vợ chồng, bạn bè, anh em.
Ý nghĩa, nội dung mà các tác giả muốn hướng đến là kêu gọi con người hãy giữ vùng giáo dục mặc dù xã hội hỗn loạn. Dòng Tuồng dân gian hay còn gọi là Tuồng đồ phản ảnh trực tiếp tư tưởng, tình cảm của nhân dân. Tình hình xã hội tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm của nhân dân, làm thay đổi cách nhìn của họ đối với chế độ phong kiến. Tuồng đỏ thường mang tính chất hài kịch, châm biến, tái diễn lại xã hội vừa phê phán các thói hư tật xấu trong dân gian: trộm cắp, gian lận, trai gái.
lại vừa vạch trần một phần xã hội phong kiến suy tàn, bất lực. Bên cạnh đó lại đề cao tình cảm mộc mạc, giản dị giữa người với người. Kịch bản Tuồng Tuồng thuộc dòng kịch hát phương Đông nên quan điểm sáng tác của các kịch gia là kể lại câu chuyện đã qua đầy kịch tính. Vì đây là tự sự, thuật lại nên bên trong kịch bản còn có nhận xét tính chất, giá trị của sự kiện, nhân vật, phân biệt rạch ròi trắng - đen, phản diện - chính diện mà nhân dân công nhận.
Kịch bản Tuồng thuộc văn học tự sự và chủ yếu là tự sự trữ tình. Từ điển văn học Việt Nam trình bày việc Đào Duy Từ đã có công xây dựng nghệ thuật Tuồng và là người khởi thảo vở Tuồng Sơn Hậu, kịch bản thành văn đầu tiên thuộc thể loại bi hùng kịch [25]. Đa phần kịch bản Tuồng cổ đều viết bằng chữ Nôm chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, văn học, triết học, ngôn ngữ trong từng câu chữ, ca từ, lời thoại. Đặc biệt thời nhà Nguyễn, nghệ thuật biểu diễn Tuồng trở thành “quốc kịch” nên việc sáng tác các kịch bản Tuồng thu hút rất nhiều giới vua quan, trí thức.
Tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà đề tài có thay đổi cho phù hợp như thời nhà Nguyễn ở Đàng Trong tập trung vào đề tài “phò vua diệt ngụy” - đề tài này phát triển khá lâu và chiếm được cảm tình của người xem trong suốt thời gian dài với các vở: Sơn Hậu, Dương Chấn Tử, Giác oan, An Trào kiếm, Tam nữ đồ vương, Hồ Thạch phủ,. Ngôn ngữ văn học của các loại kịch bản Tuồng này thường được trau chuốt, chọn lọc những chi tiết nổi bật, cầu kỳ, mang dáng dấp đồ sộ và tính bác học cao. Ngày nay đa phần các vở này vẫn được lưu truyền và biểu diễn, tiêu biểu cho nghệ thuật Tuồng Đàng Trong. Về cấu trúc kịch bản Tuồng đều trình bày có đầu, có đuôi và theo trật tự thời gian phát triển của nó, chứa đựng tính xung đột rất cao.
Mỗi kịch bản đều chia làm 3 hồi, hồi thứ nhất nói chung là giao đãi hoàn cảnh và nhân vật chủ yếu nêu ra mâu thuẫn chủ yếu của kịch. Hồi thứ 2, xung đột nổ ra quyết liệt, phe đối lập đánh đổ phe chính diện và giành ưu thế, tình huống kịch ở hồi này rất phức tạp, rắc rối. Hồi thứ 3, xung đột lên cao trào, đấu tranh giữa 2 phe đi đến quyết liệt, cao độ rồi giải quyết xung đột bằng sự thắng lợi của phe chính nghĩa. Kịch bản Tuồng ngoài cung đình gồm có dòng Tuồng của những tác giả, sĩ phu ngoài cung đình và dòng Tuồng của dân gian.
Vùng đất Nam Trung Bộ là nơi đã vun đắp cho nghệ thuật Tuồng phát triển với các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Hiển Dĩnh, Đào Tấn, Tống Phước Phổ, qua các vở Tuồng tiêu biểu được nhiều khán giả đón nhận và đánh dấu mốc quan trọng cho sự phát triển của bộ môn nghệ thuật này như: Lâm Sanh - Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Kiểu Quốc Sĩ, Cờ giải phóng, Gương liệt nữ. Kịch bản dòng Tuồng dân gian với ngôn ngữ giản dị, văn chương mang tính dân gian rõ rệt hòa vào cuộc sống tình cảm và làm vũ khí về mặt tinh thần cho nhân 11 dân. Dòng Tuồng này đã để lại các vở vẫn còn lưu diễn đến ngày nay như Châu Nam - Trần Nghĩa Xa vị, Nghêu Sò Ốc Hến. Các loại Tuồng ngoài cung đình thường chỉ viết thành từng vở lẻ vừa đủ diễn một buổi tối chứ không viết thành pho, tính phổ cập cho nhân dân cũng dễ dàng hơn.
Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Trước hết đối với kịch bản Tuồng thuộc dòng tự sự, mọi diễn biến của câu chuyện tập trung vào cách diễn của diễn viên, bởi vậy việc xây dựng hình tượng nhân vật rất quan trọng. Các tuyến nhân vật làm cho kịch bản phong phú hơn, diễn biến tâm lý cũng sẽ toát lên nhân cách của nhân vật. Nhưng ở mỗi dòng Tuồng đều có những motif chung nên hình tượng nhân vật cũng được xây dựng dựa trên những tiêu chuẩn của xã hội đặt ra, đáp ứng yêu cầu của giai cấp thống trị và nhân dân. Ở dòng Tuồng cung đình phục vụ cho giai cấp thống trị, nhân vật lý tưởng của loại Tuồng cổ là con người anh hùng trung quân hi sinh tất cả để phục vụ cho vua bởi theo thuyết của Nho giáo, hệ tư tưởng chủ đạo thời phong kiến, vua chính là con trời, thay mệnh trời để trị dân, cai quản đất nước.
Về phe chính diện, chủ yếu là hướng đến “phò vua diệt ngụy”, tất cả mọi hành động của nhân vật đều xoay quanh chủ đề đó, những chi tiết phụ liên quan đến hoàn cảnh riêng tư không được nhắc đến. Hình tượng nhân vật ở phe chính diện mang sắc thái oanh liệt, kiên cường, hội đủ các yêu tố mà Nho giáo đề ra như “tam cương, ngũ thường”, chính danh là nguyên liệu để gọt giũa hình tượng nhân vật ở phe chính thống này. Ngược lại, hình tượng nhân vật ở phe phản diện được xây dựng trên những tiêu chuẩn đối nghịch với phe chính diện. Đó là gian thần muốn cướp ngôi hay nịnh hót, phản thầy, phản bạn đi ngược lại tư tưởng Nho giáo đã đề ra.
Dòng Tuồng ngoài cung đình có hình tượng nhân vật bình dị, gần gũi với nhân dân, không phải chỉ sống bằng lý tính khô khan mà còn bộc lộ những tình cảm bình thường của con người như tình yêu thiêng liêng của Kỳ Lan Anh đối với chồng (vở Hộ sinh đàn) hay nhân vật công chúa Trại Hoa với những diễn biến tình cảm yêu thương, hờn giận, níu giữ chồng ngay giữa đường như bất kỳ một người phụ nữ bình thường trong xã hội. Tuồng cũng là một vũ khí chiến đấu về mặt tinh thần của nhân dân bởi vậy không đặt nặng tư tưởng Nho giáo, phe phái, hình tượng nhân vật trong Tuồng dân gian được nhân dân yêu quý và xây dựng nên là người anh hùng có chí khí, có đạo đức, dám đứng lên chống lại bọn cường hào, ác bá. Bên cạnh hình tượng anh hùng áo vải, còn có các motif nhân vật khác được nhân dân đề cao là: Nho sinh có hiếu, có nghĩa nhưng vẫn giữ được chữ trung hay người phụ 12 nữ bé nhỏ nhưng được coi trọng trong xã hội, họ cần được quyền yêu thương. Mọi tâm tư, nguyện vọng và hiện thực đời sống xã hội là nguyên liệu để xây dựng nên hình tượng nhân vật trong dòng Tuồng dân gian.
Hóa trang Nghệ thuật Tuồng truyền thống có những quy định nghiêm ngặt về cách hóa trang tương ứng với từng nhân vật, vai diễn. Đặc điểm nổi bật nhất của hóa trang trong Tuồng là kẻ mặt.