ĐẶT VẤN ĐỀ Thiếu máu là một vấn đề sức khỏe của cả cộng đồng, theo ước tính của WHO từ năm 1993 đến năm 2005 trên thế giới có khoảng 1,6 tỷ người thiếu máu [24]; WHO ước tính rằng một nửa gánh nặng thiếu máu là do thiếu sắt [24], [63]. Việc thiếu sắt sẽ dẫn đến các di chứng bất lợi như: chậm lớn, kém phát triển trí tuệ, suy giảm hệ miễn dịch, tăng nguy cơ sinh non và tử vong. Do đó việc đánh giá các nguyên nhân thiếu máu do thiếu sắt rất quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia cũng như cho các kế hoạch can thiệp y tế cộng đồng. Thiếu máu có thể do nhiều nguyên nhân trong đó có suy thận.
Ở bệnh thận mạn thiếu hụt EPO là nguyên nhân chính gây nên tình trạng thiếu máu, một số nguyên nhân khác có thể thúc đẩy tình trạng thiếu máu nặng hơn như: thiếu sắt, suy dinh dưỡng, mất máu do lọc máu chu kỳ, tình trạng viêm mạn tính [3]. Thiếu sắt trên bệnh thận mạn thường là thiếu sắt tương đối (hay thiếu sắt chức năng), do sử dụng thuốc kích thích tạo hồng cầu rHuEPO nhưng cơ thể lạị không thể huy động kịp nguồn sắt dự trữ nhằm cung cấp cho quá trình sinh sản hồng cầu [40]. Chẩn đoán thiếu máu bệnh thận mạn rất quan trọng, thiếu máu đã được chứng minh có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong [19]. Việc chẩn đoán, điều trị và theo dõi điều trị phụ thuộc vào rất nhiều các xét nghiệm cận lâm sàng hỗ trợ để quyết định.
Nhưng tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt là nhuộm các đại thực bào tủy xương, phát hiện các sideroblast trong tủy xương, xét nghiệm này xâm lấn và khá tốn kém cũng như khó thực hiện thường quy vì phải chọc tủy. Ferritin, sắt trong huyết thanh, khả năng gắn sắt toàn thể (TIBC: Total iron binding capacity) và độ bão hòa transferrin (TSAT) là những xét nghiệm sinh hóa thay thế phổ biến nhất nhưng các xét nghiệm này là phương. 2 pháp gián tiếp và có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện nhất định. Sắt huyết thanh dao động trong ngày và thay đổi mạnh tùy thuộc vào lượng sắt ăn vào, Transferrin bị ảnh hưởng bởi tình trạng dinh dưỡng; điều này dẫn đến thiếu độ nhạy và độ đặc hiệu đối với TSAT trong khả năng đánh giá sử dụng sắt.
Ferritin huyết thanh cho biết lắng đọng sắt trong cơ thể, cũng như đánh giá kho dự trữ sắt khá tốt, tuy nhiên ferritin là một protein viêm nên sẽ bị ảnh hưởng bởi tình trạng viêm [36], [72]. Hồng cầu lưới là hồng cầu chưa trưởng thành, thiếu nhân và chứa dư lượng RNA của ribosome. Hồng cầu lưới được tạo ra từ tủy xương, giải phóng vào tuần hoàn máu ngoại vi và chiếm khoảng 1% (0,5 - 1,5%) hồng cầu tuần hoàn ở người lớn; và 2% - 6% ở trẻ sơ sinh [2]. Hồng cầu lưới chỉ lưu thông trong 1 đến 2 ngày, nên hàm lượng hemoglobin của hồng cầu lưới cung cấp một lượng sắt có sẵn cho các tế bào hồng cầu do tủy xương sản xuất gần nhất [29], [58].
Bệnh viện Thống Nhất là cơ sở điều trị bệnh lý thận-tiết niệu nhưng chưa triển khai xét nghiệm huyết sắc tố hồng cầu lưới trong chẩn đoán, điều trị. Với ước vọng cần áp dụng xét nghiệm công thức máu bổ sung thêm các chỉ số hồng cầu lưới nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả chẩn đoán và điều trị qua đó giúp cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân thận. Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giá trị huyết sắc tố hồng cầu lưới trên bệnh nhân suy thận mạn có lọc máu chu kỳ”. 3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Xét nghiệm huyết sắc tố hồng cầu lưới (Ret-He) có thực sự cần thiết hay không trong chẩn đoán, theo dõi và hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt trên bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh?.
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu 1: Xác định nồng độ huyết sắc tố hồng cầu lưới trên bệnh nhân suy thận mạn có lọc máu chu kỳ. Mục tiêu 2: Xác định mối tương quan giữa huyết sắc tố hồng cầu lưới với ferritin và độ bão hòa transferrin trên bệnh nhân suy thận mạn có lọc máu chu kỳ. Mục tiêu 3: So sánh tỷ lệ huyết sắc tố hồng cầu lưới ở 2 nhóm thiếu sắt và không thiếu sắt trên bệnh nhân suy thận mạn có lọc máu chu kỳ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sinh lý máu và quá trình tổng hợp hồng cầu 1.1 Sinh lý máu Máu gồm 2 thành phần chính là huyết tương và huyết cầu.
Huyết cầu là thành phần đặc biệt gồm các tế bào: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu; các thành phần này đều có cấu tạo, hình thái và chức năng đặc biệt thiết yếu với cơ thể [2].2 Chức năng và cấu tạo hồng cầu Hồng cầu là tế bào thực hiện chức năng vận chuyển oxy từ phổi đến tế bào, vận chuyển CO2 từ tế bào về phổi và thải ra ngoài. Cấu trúc hemoglobin Hemoglobin còn gọi huyết sắc tố, đó là chromoprotein gồm hai thành phần là nhân heme và globin. Heme là một sắc tố đỏ. Mỗi heme gồm một vòng porphyrin và một Fe2+ chính giữa.
Một phân tử hemoglobin có bốn nhân heme, chiếm 5%. Globin là một protein gồm bốn chuỗi polypeptid giống nhau từng đôi một. Hemoglobin người bình thường là HbA gồm hai chuỗi α và hai chuỗi β. Hemoglobin thời kỳ bào thai là HbF gồm hai chuỗi α và hai chuỗi ɣ.3 Các nguyên liệu sử dụng để tổng hợp nên hồng cầu Để tạo hồng cầu, cần phải cung cấp đầy đủ protein, sắt, và các vitamin B12, B9.
Protein cần cho sự tổng hợp các chuỗi globin và các thành phần cấu trúc của hồng cầu. Sắt cần để tạo nhân heme: nhu cầu sắt hàng ngày là 1 mg ở nam giới và 2 mg ở nữ. Đối với phụ nữ có thai nhu cầu sắt càng tăng cao nên phải cung cấp thêm viên sắt mỗi ngày. Vitamin B12 và acid folic cần cho quá.
6 trình tổng hợp DNA để phục vụ sự phân chia tế bào. Nhu cầu B12 mỗi ngày là 1-3 mg. 1 Cơ chế hấp thụ sắt và cân bằng nội môi “Nguồn: Murgia và cộng sự, 2012” [62] 1.4 Hồng cầu lưới Sau đời sống khoảng 120 ngày; gần 1% trong tổng số hồng cầu bị mất đi hàng ngày và được bổ sung bởi các tế bào mới. Cứ mỗi giây, khoảng hai triệu hồng cầu lại được sản xuất.
Trong tủy xương, các nguyên bào hồng cầu trẻ đẩy ra nhân tế bào của chúng, trở thành hồng cầu lưới, sau đó đi vào dòng máu ngoại vi. Theo quy luật, hồng cầu lưới vẫn ở trong tủy xương thêm ba ngày và trong dòng máu ngoại vi một ngày. Tên gọi ‘hồng cầu lưới’ bắt nguồn từ cấu trúc giống như mạng lưới (‘lưới’ trong tiếng Latinh), có thể nhìn thấy được sau khi nhuộm phiến đồ tiêu bản máu dàn với xanh cresyl hoặc xanh metylen ( kết tủa các mảnh axit ribo- nucleic; hình 1. Bằng cách loại bỏ lưới nội chất, hồng cầu lưới sẽ phát triển thành hồng cầu trưởng thành trong vòng bốn ngày [68].
2 Nhuộm phết máu với các giai đoạn khác nhau của hồng cầu lưới “Nguồn: Hãng Sysmex, 2016”[68] Hình 1. 3 Hồng cầu qua các giai đoạn trưởng thành “Nguồn:https://teachmephysiology.com/immunesystem/haematology/erythropo -eisis/”[69]. 1 Các giai đoạn trưởng thành theo Heilmeyer và định lượng theo Seip Các giai đoạn trưởng Định lượng theo Seip Mô tả hình thái thành theo Heilmeyer (% bình thường) Giai đoạn 0 Hạt nhân Giai đoạn I Lưới bao gồm các cục đông <0,1 đặc Giai đoạn II Lưới sắp xếp lỏng lẻo 7,0 Giai đoạn III Lưới sắp xếp khác nhau 32,0 Giai đoạn IV Một số hạt rải rác 61,0 “Nguồn: Hãng Sysmex, 2016”[68] Năm 1986, Ủy ban Quốc gia về tiêu chuẩn phòng thí nghiệm Lâm sàng đã phân loại là hồng cầu lưới “bất kỳ tế bào màu đỏ nào không có nhân chứa hai hoặc nhiều hạt vật chất nhuộm màu xanh lam tương ứng với RNA ribo- some” [51]. Hội đồng tiêu chuẩn hóa Quốc tế về Huyết học cũng chấp nhận định nghĩa này [71].
Hồng cầu lưới phản ánh sự tái tạo hồng cầu. Trong một hệ thống cân bằng > 90% các giai đoạn rất trưởng thành của hồng cầu lưới (giai đoạn III và IV) hiện diện trong dòng máu ngoại vi. Sự trưởng thành của tế bào lưới Ngoài phép đo hồng cầu lưới thông thường, phương pháp đo tế bào dòng huỳnh quang cho phép phân loại hồng cầu lưới thành ba giai đoạn trưởng thành. Các giai đoạn trưởng thành này được xác định bởi hàm lượng RNA của hồng cầu lưới, được đo trên máy phân tích dưới dạng cường độ huỳnh quang.
Hàm lượng RNA càng cao thì tế bào lưới càng ít trưởng thành. 9 Các tế bào lưới được phân chia theo cường độ huỳnh quang của chúng thành ba loại sau đại diện cho các giai đoạn trưởng thành khác nhau: LFR (Low fluorescence reticulocytes: hồng cầu lưới phát huỳnh quang thấp) - Hồng cầu lưới “trưởng thành” MFR (Medium fluorescence reticulocytes: hồng cầu lưới phát huỳnh quang trung bình) - Hồng cầu lưới “bán trưởng thành” HFR (High fluorescence reticulocytes: hồng cầu lưới phát huỳnh quang cao) - Hồng cầu lưới “chưa trưởng thành” IRF là tổng của MFR cộng với HFR, tức là hồng cầu lưới chưa trưởng thành, và còn được gọi là 'chỉ số trưởng thành hồng cầu lưới'. IRF = MFR + HFR Hình 1. 4 Biểu đồ phân tán của kênh hồng cầu lưới “Nguồn: Hãng Sysmex, 2016”[68].
2 Các giai đoạn trưởng thành của hồng cầu lưới LFR MFR HFR Tế bào lưới huỳnh Hồng cầu lưới huỳnh Hồng cầu lưới huỳnh quang thấp quang trung bình quang cao Hàm lượng ARN ít Hàm lượng ARN trung Hàm lượng ARN cao bình Hồng cầu lưới trưởng Hồng cầu lưới bán Hồng cầu lưới chưa thành trưởng thành trưởng thành Khoảng tham chiếu: Khoảng tham chiếu: Khoảng tham chiếu: 86,5 - 98,5% 1,5 - 11,5% 0 - 1,4% “Nguồn: Hãng Sysmex, 2016”[68] Tương đương Hemoglobin hồng cầu lưới (Ret-He) Việc sử dụng Hb để phát hiện tình trạng thiếu sắt và thay đổi tình trạng sắt trong quá trình tạo hồng cầu chỉ có thể thực hiện được vào thời điểm tương đối muộn. Ngược lại với điều đó, Ret-He đại diện cho hàm lượng Hb của hồng cầu non, hồng cầu lưới, và do đó cung cấp thông tin thời gian thực về việc cung cấp sắt cho quá trình tạo hồng cầu. Đo hàm lượng hemoglobin của các tế bào lưới có nghĩa có thể xem nguồn cung cấp sắt hiện tại để tạo hồng cầu và đánh giá 'chất lượng' của các tế bào mới được tạo ra. Điều này cho phép phát hiện những thay đổi về tình trạng sắt sớm hơn nhiều so với thông qua hàm lượng hemoglobin của các tế bào hồng cầu trưởng thành.