Tổng quan nghiên cứu
Ung thư đại - trực tràng là một trong những bệnh lý ác tính đường tiêu hóa phổ biến hàng đầu trên phạm vi toàn cầu. Theo số liệu thống kê từ GLOBOCAN, căn bệnh này đứng thứ ba về tỷ suất mắc mới ở nam giới, thứ hai ở nữ giới và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ tư trên thế giới. Tại Việt Nam, mỗi năm ghi nhận khoảng 182.563 ca mắc ung thư mới và 122.690 ca tử vong, trong đó ung thư đại - trực tràng xếp vị trí thứ tư sau ung thư gan, phổi và dạ dày. Tại khu vực Tây Nam Bộ nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng, tỷ lệ mắc mới ung thư đại - trực tràng luôn duy trì ở mức cao trong cơ cấu bệnh tật đường tiêu hóa.
Vấn đề nan giải trong thực hành lâm sàng hiện nay là khoảng 60% bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã tiến triển sang giai đoạn muộn hoặc di căn. Ở giai đoạn này, phẫu thuật đơn thuần không thể điều trị triệt căn mà phải kết hợp liệu pháp toàn thân, đặc biệt là thuốc nhắm trúng đích kháng thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì EGFR như cetuximab hoặc panitumumab phối hợp cùng hóa trị chuẩn. Tuy nhiên, liệu pháp kháng EGFR chỉ mang lại hiệu quả sống còn cho những bệnh nhân không mang đột biến gen KRAS, trong khi đột biến gen này chiếm tỷ lệ từ 30% đến 50% các trường hợp.
Trước thực tế đó, đề tài nghiên cứu được triển khai nhằm ba mục tiêu trọng tâm:
- Mô tả một số đặc điểm cận lâm sàng của 59 bệnh nhân ung thư đại - trực tràng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong giai đoạn 2021-2022.
- Ứng dụng quy trình tách chiết DNA mô sáp và kỹ thuật giải trình tự Sanger kết hợp COLD-PCR để xác định tỷ lệ cùng các kiểu đột biến exon 2 gen KRAS.
- Phân tích mối liên quan giữa tình trạng đột biến gen với các chỉ số cận lâm sàng như nồng độ kháng nguyên CEA, nồng độ hemoglobin, hình ảnh nội soi và đặc điểm mô bệnh học.
Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền học phân tử tại Đồng bằng sông Cửu Long, tạo tiền đề tối ưu hóa phác đồ cá thể hóa điều trị, giúp tiết kiệm chi phí y tế và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết sinh học phân tử về con đường truyền tín hiệu nội bào EGFR - RAS - RAF - MEK - MAPK và mô hình tích lũy đột biến gen đa bước trong sinh ung đại trực tràng của Fearon và Vogelstein.
Gen KRAS nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể số 12 (vị trí 12p12.1), có kích thước khoảng 45.691 cặp base gồm 6 exon, mã hóa cho protein Ras giữ vai trò chuyển mạch phân tử trong tế bào. Ở trạng thái sinh lý bình thường, protein Ras luân chuyển giữa hai trạng thái: hoạt hóa khi gắn với GTP (dưới tác động của yếu tố trao đổi nucleotide guanine GEFs) và bất hoạt khi GTP bị thủy phân thành GDP (nhờ protein hoạt hóa GTPase GAPs). Khi xuất hiện đột biến điểm tại exon 2 (chủ yếu tập trung ở codon 12 và codon 13), protein Ras bị khóa vĩnh viễn ở trạng thái liên kết GTP, liên tục phát tín hiệu tăng sinh, ức chế quá trình chết theo chương trình của tế bào ung thư mà không còn phụ thuộc vào sự kích hoạt từ thụ thể EGFR bề mặt.
Các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm:
- Liệu pháp kháng thể đơn dòng kháng EGFR: Các thuốc sinh học như cetuximab, panitumumab có cơ chế gắn cạnh tranh vào vùng ngoại bào của thụ thể EGFR để ngăn chặn tín hiệu tăng sinh.
- Đột biến điểm exon 2 gen KRAS: Các biến đổi thay thế nucleotide tại codon 12 (như Gly12Asp, Gly12Val, Gly12Arg, Gly12Cys, Gly12Ala, Gly12Ser) và codon 13 (như Gly13Asp, Gly13Cys, Gly13Arg).
- Kháng nguyên biểu mô phôi CEA: Dấu ấn sinh học khối u quan trọng với ngưỡng bình thường dưới 5 ng/mL, thường gia tăng mạnh khi có xâm lấn hoặc di căn.
- Thiếu máu mạn tính: Đánh giá dựa trên nồng độ hemoglobin máu ngoại vi theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2011), với ngưỡng dưới 13 g/dL ở nam và dưới 12 g/dL ở nữ không mang thai.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên loạt ca bệnh với cỡ mẫu gồm 59 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư biểu mô đại - trực tràng nguyên phát bằng mô bệnh học và có mẫu mô khối u vùi nến parafin (FFPE) lưu trữ tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng cho tất cả các trường hợp thỏa mãn tiêu chuẩn chọn lựa và không thuộc diện loại trừ (không có tiền sử hóa xạ trị vùng chậu trước đó hoặc ung thư từ cơ quan khác di căn đến).
Quy trình phân tích cận lâm sàng và sinh học phân tử bao gồm:
- Xét nghiệm sinh hóa và huyết học: Định lượng nồng độ CEA huyết thanh bằng phương pháp miễn dịch hóa phát quang ECLIA trên hệ thống ARCHITECT Plus và định lượng chỉ số hemoglobin toàn phần trên máy huyết học tự động.
- Giải phẫu bệnh: Đánh giá phân loại mô học và độ biệt hóa theo tiêu chuẩn của WHO 2010 qua kỹ thuật nhuộm Hematoxylin - Eosin (HE).
- Tách chiết DNA bộ gen: Thu thập 8 lát cắt mô sáp có độ dày 5 µm bằng máy cắt tiêu bản Microtome, tiến hành khử sáp bằng dầu khoáng và tách chiết bằng bộ kít ReliaPrep FFPE gDNA Miniprep System. Độ tinh sạch và nồng độ DNA được kiểm tra qua tỷ số quang phổ tử ngoại OD260/OD280 đạt dải chuẩn từ 1,8 đến 2,0 trên máy quang phổ kế BioDrop.
- Kỹ thuật khuếch đại gen PCR và COLD-PCR: Sử dụng cặp mồi đặc hiệu khuếch đại đoạn gen mục tiêu 216 bp của exon 2 gen KRAS. Nhằm khắc phục tình trạng phân mảnh DNA thường gặp trong mẫu mô sáp lưu trữ, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật đồng khuếch đại ở nhiệt độ biến tính thấp COLD-PCR với 40 chu kỳ luân nhiệt có bước phân tách ở 78 độ C, giúp làm giàu alen đột biến một cách vượt trội so với PCR thường quy.
- Giải trình tự Sanger trực tiếp: Sản phẩm PCR sau tinh sạch được thực hiện phản ứng cycle sequencing hai chiều bằng hóa chất BigDye Terminator v3.1 và phân tích điện di mao quản trên hệ thống ABI 3500 Genetic Analyzer. Kết quả được so sánh với chuỗi tham chiếu chuẩn trên ngân hàng gen NCBI qua phần mềm CLC Main Workbench 5.5.
- Xử lý thống kê: Số liệu được phân tích trên phần mềm SPSS 20.0, áp dụng kiểm định Chi-bình phương (Chi-squared test) và kiểm định chính xác Fisher (Fisher's exact test) với ngưỡng ý nghĩa thống kê xác định khi giá trị p ≤ 0,05. Toàn bộ quy trình tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng phòng xét nghiệm theo Quyết định 2429/QĐ-BYT.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát trên 59 bệnh nhân ung thư đại - trực tràng đem lại những số liệu thống kê chi tiết:
- Đặc điểm nhân khẩu học: Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 60,3 ± 13,0 tuổi, phân bố từ 26 tuổi đến 97 tuổi. Nhóm tuổi từ 40 đến 69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 71,2% (42 ca), nhóm từ 70 tuổi trở lên chiếm 23,7% (14 ca) và nhóm dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 5,1% (3 ca). Về giới tính, nam giới chiếm 57,6% (34 ca), nữ giới chiếm 42,4% (25 ca), tỷ lệ nam trên nữ đạt khoảng 1,36/1. Về địa bàn cư trú, 42,4% bệnh nhân sống tại thành phố Cần Thơ, trong khi 57,6% bệnh nhân đến từ các tỉnh khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
- Đặc điểm vị trí và tổn thương nội soi: Vị trí khối u ghi nhận ở đại tràng chiếm 55,9% (33 ca) và ở trực tràng chiếm 44,1% (26 ca). Trên hình ảnh nội soi tiêu hóa, dạng tổn thương u nhú lồi phẳng chiếm đa số với 57,6% (34 ca), dạng u sùi chiếm 42,4% (25 ca); chưa ghi nhận tổn thương dạng loét đơn thuần hoặc thâm nhiễm trong tập mẫu nghiên cứu.
- Hiệu quả tối ưu hóa kỹ thuật khuếch đại gen: Trong giai đoạn đầu chạy PCR thường quy, có 24/59 mẫu (chiếm 40,7%) không xuất hiện vạch sản phẩm rõ nét trên gel agarose do chất lượng DNA trong khối sáp bị suy thoái. Sau khi ứng dụng kỹ thuật cải tiến COLD-PCR, 100% trong số 24 mẫu khó này đã được khuếch đại thành công đoạn gen đích 216 bp với vạch điện di rõ ràng, đủ tiêu chuẩn chuyển sang giải trình tự Sanger.
- Phát hiện các kiểu đột biến exon 2 gen KRAS: Kỹ thuật giải trình tự Sanger phát hiện nhiều dạng đột biến điểm tập trung tại codon 12 và codon 13 của exon 2. Các biến đổi nucleotide điển hình bao gồm đột biến thay thế c.35G>A (Gly12Asp), c.35G>T (Gly12Val), c.34G>C (Gly12Arg) và c.38G>A (Gly13Asp).
Thảo luận kết quả
Tỷ lệ đột biến exon 2 gen KRAS ghi nhận trong nghiên cứu phản ánh sự tương đồng với các công bố khoa học trong nước và quốc tế. Trên thế giới, các trung tâm ung thư lớn như Trung tâm Ung bướu MD Anderson ghi nhận tỷ lệ đột biến exon 2 đạt khoảng 48%, trong khi các nghiên cứu tại châu Á của Bisht S dao động quanh mức 23,5% đến 38,3%. Tại Việt Nam, kết quả này nằm trong khoảng dao động thống kê tương đương với các nghiên cứu của Hoàng Anh Vũ (35,8%), Nguyễn Hồng Phong (34%), Bùi Ánh Tuyết (36,9%) và Nguyễn Trần Uyên Thy (28,9%). Sự khác biệt nhẹ về tỷ lệ có thể giải thích bởi yếu tố địa lý, kích thước mẫu và độ nhạy của các kỹ thuật sinh học phân tử được áp dụng.
Khi phân tích mối tương quan giữa tình trạng đột biến gen với các chỉ số cận lâm sàng, dữ liệu có thể được mô tả trực quan thông qua bảng tương quan chéo và biểu đồ cột ghép:
- Liên quan với nồng độ CEA và Hemoglobin: Nồng độ CEA huyết thanh tăng cao (≥ 5 ng/mL) và tình trạng thiếu máu tiền phẫu (nồng độ Hb giảm) là các yếu tố thường gặp ở bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển. Một số nghiên cứu trên thế giới ghi nhận nồng độ CEA tăng làm tăng nguy cơ mang gen đột biến KRAS lên khoảng 2,34 lần. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này cũng như các công bố của Lê Văn Thiệu và Bùi Ánh Tuyết, mối liên quan giữa đột biến exon 2 gen KRAS với nồng độ CEA và nồng độ Hb chưa đạt mức ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
- Liên quan với vị trí khối u và đặc điểm mô bệnh học: Tỷ lệ đột biến exon 2 gen KRAS ở nhóm u đại tràng (55,9%) có xu hướng phân bố cao hơn so với u trực tràng (44,1%). Về độ biệt hóa mô học, phần lớn các khối u là ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa và cao. Sự hiện diện của đột biến gen phản ánh cơ chế sinh ung độc lập sớm, là chỉ dấu phân tử quan trọng định hướng tiên lượng và bắt buộc phải thực hiện trước khi quyết định điều trị kháng thể đơn dòng.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các kết quả đạt được từ đề tài, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất:
- Chuẩn hóa quy trình xét nghiệm gen thường quy: Triển khai áp dụng quy trình giải trình tự gen Sanger kết hợp kỹ thuật COLD-PCR thành kỹ thuật thường quy tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đặt mục tiêu đạt 100% bệnh nhân ung thư đại - trực tràng giai đoạn tiến xa hoặc di căn được xét nghiệm đột biến exon 2 gen KRAS trước khi bác sĩ ra chỉ định thuốc kháng EGFR. Thời gian hoàn thành mục tiêu trong vòng 12 đến 24 tháng tới, do Khoa Xét nghiệm và Phòng Sinh học Phân tử chủ trì thực hiện.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền học khối u khu vực: Thiết lập hệ thống lưu trữ thông tin đột biến gen ung thư đại - trực tràng tích hợp vào bệnh án điện tử tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Định kỳ theo dõi và đánh giá hiệu quả đáp ứng thuốc nhắm đích, tỷ lệ sống thêm không bệnh tiến triển (PFS) và tỷ lệ sống còn toàn bộ (OS) sau 3 đến 5 năm điều trị. Đơn vị thực hiện là Bộ môn Ung thư phối hợp cùng Trung tâm Y Sinh học Phân tử.
- Mở rộng phạm vi khảo sát đột biến toàn diện: Nâng cấp hệ thống xét nghiệm mở rộng sang các exon khác của gen KRAS (exon 3, exon 4) và các gen liên quan như NRAS, BRAF, PIK3CA. Đồng thời từng bước nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh thiết lỏng (ctDNA qua kỹ thuật SPOT-MAS hoặc giải trình tự thế hệ mới NGS) trong giai đoạn 2024-2026 nhằm hỗ trợ theo dõi tái phát và kháng thuốc không xâm lấn đối với các bệnh nhân không thể lấy mẫu mô sinh thiết.
- Nâng cao hiệu quả tầm soát sớm trong cộng đồng: Đẩy mạnh chương trình truyền thông và khám sàng lọc ung thư đại - trực tràng định kỳ hàng năm cho đối tượng nguy cơ cao từ 40 tuổi trở lên (nhóm chiếm 71,2% số ca mắc trong nghiên cứu). Kết hợp xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân, xét nghiệm CEA và nội soi đại trực tràng ống mềm có nhuộm màu để phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư. Chủ thể triển khai là mạng lưới y tế dự phòng và các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn phong phú, đặc biệt hữu ích cho bốn nhóm đối tượng:
- Bác sĩ chuyên khoa Ung bướu và Tiêu hóa: Sử dụng số liệu dịch tễ phân tử và đặc điểm cận lâm sàng để xây dựng phác đồ điều trị trúng đích cá thể hóa. Giúp bác sĩ đưa ra quyết định lâm sàng chính xác trong việc lựa chọn giữa kháng thể đơn dòng kháng EGFR (như cetuximab) hay kháng VEGF (như bevacizumab), tránh chỉ định sai gây tốn kém chi phí và độc tính thuốc cho người bệnh.
- Kỹ thuật viên và chuyên viên Sinh học Phân tử: Tham khảo quy trình thực nghiệm chi tiết từ khâu xử lý mô sáp parafin khó, tối ưu hóa điều kiện luân nhiệt kỹ thuật COLD-PCR đến kỹ thuật giải trình tự Sanger hai chiều trên máy ABI 3500. Đây là tài liệu chuẩn để xây dựng quy trình thao tác chuẩn (SOP) theo tiêu chuẩn Quyết định 2429/QĐ-BYT.
- Giảng viên, Học viên Cao học và Sinh viên Y Dược: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học, Giải phẫu bệnh và Ung bướu. Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu khoa học y học thực chứng và kỹ năng phân tích thống kê y sinh học bằng SPSS.
- Nhà quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp bằng chứng thực tế về dịch tễ đột biến gen tại miền Tây Nam Bộ, làm căn cứ khoa học để đầu tư trang thiết bị xét nghiệm chuyên sâu và xây dựng danh mục kỹ thuật cao được bảo hiểm y tế chi trả cho người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao cần xét nghiệm đột biến exon 2 gen KRAS trước khi chỉ định thuốc kháng EGFR?
Khi gen KRAS mang đột biến tại exon 2, protein Ras luôn ở trạng thái hoạt hóa liên tục mà không phụ thuộc vào tín hiệu từ thụ thể EGFR. Do đó, các thuốc kháng EGFR như cetuximab không mang lại hiệu quả điều trị, thậm chí gây độc tính và lãng phí chi phí. Xét nghiệm là chỉ định bắt buộc để chọn lọc đúng nhóm bệnh nhân có gen KRAS tự nhiên (hoang dã) được hưởng lợi.
Kỹ thuật COLD-PCR mang lại lợi thế gì vượt trội so với PCR truyền thống?
Kỹ thuật COLD-PCR điều chỉnh chu trình nhiệt với bước phân tách ở nhiệt độ thấp (78 độ C), giúp ưu tiên biến tính và khuếch đại chọn lọc các chuỗi DNA mang alen đột biến. Phương pháp này đã giải quyết thành công 24/59 mẫu mô sáp parafin bị đứt gãy hoặc nồng độ DNA thấp mà PCR thông thường không thể khuếch đại được.
Các kiểu đột biến nào thường gặp nhất trên exon 2 của gen KRAS?
Đột biến exon 2 chủ yếu tập trung tại hai vị trí codon 12 và codon 13. Các dạng phổ biến nhất được ghi nhận qua giải trình tự Sanger gồm có Gly12Asp (thay đổi nucleotide 35G>A), Gly12Val (35G>T), Gly12Arg (34G>C) và Gly13Asp (38G>A), làm thay đổi cấu trúc không gian của chuỗi polypeptide tương ứng.
Chỉ số CEA và Hemoglobin có ý nghĩa như thế nào đối với bệnh nhân ung thư đại - trực tràng?
Kháng nguyên CEA là dấu ấn sinh học hàng đầu giúp theo dõi tiến triển khối u và phát hiện sớm nguy cơ tái phát, di căn sau phẫu thuật khi nồng độ vượt ngưỡng 5 ng/mL. Trong khi đó, định lượng hemoglobin giúp phát hiện và can thiệp kịp thời tình trạng thiếu máu mạn tính do mất máu rỉ rả qua khối u, nâng cao thể trạng cho người bệnh trước phẫu thuật.
Nhóm tuổi nào có tỷ lệ mắc ung thư đại - trực tràng cao nhất trong nghiên cứu?
Kết quả nghiên cứu ghi nhận độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 60,3 tuổi, trong đó nhóm tuổi từ 40 đến 69 tuổi chiếm tỷ lệ cao vượt trội lên tới 71,2% (42/59 bệnh nhân). Tỷ lệ này cho thấy sự cần thiết của việc triển khai sàng lọc nội soi định kỳ cho người dân ngay từ độ tuổi 40.
Kết luận
- Ứng dụng thành công quy trình giải trình tự gen Sanger kết hợp kỹ thuật làm giàu alen COLD-PCR để xác định chính xác các kiểu đột biến exon 2 gen KRAS từ mẫu mô sáp parafin lưu trữ.
- Khảo sát toàn diện đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trên 59 bệnh nhân, ghi nhận độ tuổi trung bình 60,3 tuổi, nam giới chiếm 57,6%, 55,9% khối u khu trú tại đại tràng và 57,6% tổn thương ở dạng u nhú lồi phẳng trên nội soi.
- Cung cấp dữ liệu dịch tễ học phân tử quan trọng về các dạng đột biến chủ đạo tại codon 12 và 13 của gen KRAS ở bệnh nhân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
- Khẳng định tính tất yếu của việc đưa xét nghiệm sinh học phân tử vào quy trình thường quy nhằm định hướng chính xác liệu pháp trúng đích kháng EGFR, nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống cho bệnh nhân.
- Nghiên cứu mở ra định hướng tiếp tục mở rộng khảo sát các gen NRAS, BRAF và ứng dụng công nghệ giải trình tự thế hệ mới NGS trên mẫu sinh thiết lỏng trong giai đoạn tiếp theo.