Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ TÍN ĐỒ PHẬT TỬ VIỆT NAM SINH SỐNG Ở NƯỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm đạo đức Phật giáo Phạm trù đạo đức được đề cập đến từ rất sớm trong khoa học: Ở phương Tây, từ thế kỷ XVII, XVIII, cùng với sự mở rộng và phát triển của kinh tế thị trường, J.Weber (Đức) đã đề cập đến các khái niệm về “đạo đức thị trường”, “đạo đức duy lý”; Từ cuối thế kỷ XX trở lại đây nổi lên quan điểm của trường phái thực dụng Mỹ (Skinner) cho rằng đạo đức là sự “ứng xử tình thế”; Tại Châu Á, nhất là các nước Á Đông, do chịu ảnh hưởng của Khổng Tử, thường xem xét đạo đức trong phạm trù “Đạo”, đề cao chữ Nhân, chữ Nghĩa và tư tưởng “kiêm ái” của Mặc Tử; Hồ Chủ tịch nêu cao tư tưởng “Đạo đức cách mạng” với các nội dung “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” để quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Theo Từ điển tiếng Việt, đạo đức là: “Những tiêu chuẩn, yêu cầu được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội; Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có” [Hoàng Phê, 2005, tr.
Từ góc độ triết học đạo đức được nhìn nhận là một hình thái ý thức xã hội, có chức năng điều chỉnh hành vi của con người, mang tính chất phổ biến đối với tất cả cá nhân và mang tính tương đối bền vững. Trong Từ điển Triết học giải thích, đạo đức là: “Một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không trừ lĩnh vực nào. Những yêu cầu của đạo đức mang hình thức bổn phận phải làm không riêng một ai, như nhau đối với tất cả nhưng không 9 chịu sự ra lệnh của ai cả. Những yêu cầu này có tính chất tương đối bền vững” [Xem Nxb Tiến Bộ, 1986].
Giáo trình Đạo đức học định nghĩa: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được biểu hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [Nguyễn Ngọc Long, 2001, tr. Dù tiếp cận khái niệm đạo đức ở các góc độ khác nhau, các khái niệm trên đều thống nhất đạo đức là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội; chức năng chính của đạo đức là điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội; đạo đức mang tính phổ biến, truyền thống và tương đối bền vững. Có quan niệm hiểu đơn giản đạo đức là các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội. Phật giáo được biết đến một cách phổ thông là là một tôn giáo đồng thời cũng là một hệ thống của triết học có nguồn gốc từ Ấn Độ bao gồm một loạt các giáo lý, tư tưởng triết học cũng như tư tưởng cùng tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích hiện tượng tự nhiên, tâm linh, xã hội, bản chất sự vật và sự việc; các phương pháp thực hành, tu tập dựa trên những lời dạy ban đầu của một nhân vật lịch sử có thật tên là Tất- đạt-đa Cồ-đàm và các truyền thống, tín ngưỡng được hình thành trong quá trình truyền bá, phát triển Phật giáo sau thời Tất-đạt-đa Cồ-đàm [Xem https://vi.org/wiki/Phật_ giáo].
Hay ở khía cạnh khác trong cuốn Vấn đáp Phật giáo do Lê Kim Kha biên soạn, “Phật giáo có thể được định nghĩa và giải thích bằng những góc nhìn khác nhau như sau: Phật giáo, là giáo lý của Đức Phật (người Giác Ngộ), 10 nhằm hướng dẫn và phát triển con người bằng cách làm cho thân tâm trong sạch (thông qua con đường Đạo Đức); làm cho thân tâm bình lặng (thông qua con đường Thiền Tập), và làm khai sáng tâm linh con người (thông qua con đường Trí Tuệ). Hay Phật giáo là một “tôn giáo” được thiết lập nên bởi Đức Phật vì phúc lợi của chúng sinh, vì hạnh phúc của chúng sinh và vì sự tiến bộ của thế giới con người. Mọi người từ mọi xứ sở đều có thể áp dụng những giáo lý và hướng dẫn của đạo Phật vào trong cuộc sống của mình, tùy theo căn cơ, khả năng, điều kiện và ý chí tự do của mình” [Lê Kim Kha, 2016, tr. Như vậy khi nhắc đến Phật giáo, người ta thường nhắc đến đạo đức Phật giáo như là hạt nhân để cấu tạo nên tôn giáo này, đạo đức Phật giáo thể hiện qua các quan niệm về giáo lý, giáo luật Phật giáo.
Như vậy, có thể hiểu, đạo đức Phật giáo là một hình thái ý thức xã hội, gồm những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội (thể hiện chủ yếu qua các giáo lý, giáo luật của nhà Phật), nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội. Đạo đức theo quan niệm Phật giáo: Đạo là chính pháp, đức là đắc đạo, không làm sai lệch nền chính pháp. Khái niệm tín đồ Phật tử Việt Nam Tín đồ của một tôn giáo nói chung có thể hiểu “Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận” [Quốc hội, 2016, tr.1] Trường hợp Phật giáo, Phật giáo quan niệm tín đồ bao gồm có hai giới đệ tử của Phật là tại gia và xuất gia. Xuất gia chỉ cho giới tu hành, còn tại gia chỉ cho những người thiện nam, tín nữ, cư sĩ, thí chủ hộ trì đạo Phật.
Giới xuất gia thì dễ dàng nhận biết qua sắc phục, và đời sống tu hành ở các cơ sở 11 tôn giáo. Còn giới tại gia để được gọi là tín đồ, đệ tử của Đức Phật thì khó xác định hơn. Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chương X, Điều 60: Tín đồ cư sĩ Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam là những người tin tưởng Phật pháp, thực hành theo giáo lý Đức Phật và tùy khả năng, tự nguyện thọ trì giới luật Phật chế. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang (2005), “Ưu Bà Di dịch nghĩa thanh tín nữ, cận thiện nữ, cận sự nữ, cận túc nữ, tín nữ.
Chỉ nữ chúng gần gũi Tam bảo, thụ Tam quy, giữ ngũ giới, thực hành thiện pháp, là 1 trong 2 chúng tại gia, 1 trong 4 chúng đệ tử Phật” [Thích Minh Cảnh, 2005, tr. “Ưu Bà Tắc dịch nghĩa cận sự nam, cận thiện nam, tín sĩ, tín nam, thanh tín sĩ. Chỉ người cư sĩ nam tại gia gần gũi phụng thờ Tam bảo, thụ trì ngũ giới, là 1 trong 2 chúng tại gia, 1 trong 4 chúng đệ tử Phật, là người tại gia tín ngưỡng Phật pháp” [Thích Minh Cảnh, 2005, tr. Khái quát chung về đạo đức Phật giáo 1.
Nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo Có thể khái quát đạo đức Phật giáo dựa căn bản trên Giới (Sìla) - Ðịnh (Samadhi) - Tuệ (Prajnâ) và được soi sáng bởi lý duyên khới, tứ đế, nhân quả, luân hồi và vô ngã. Ðức Phật Thích Ca sau khi thành đạo dưới cội Bồ Ðề, đã quyết định trở về với xã hội và cuộc sống của con người, nhằm giúp đỡ con người đạt đến mục đích tối cao là giải thoát. Với mục đích đó, đức Phật chế ra giới luật nhằm xây dựng một nền đạo đức làm nền tảng cho sự tu tập nhằm đưa đến hạnh phúc cho nhân loại. Đạo đức Phật giáo hướng đến mục đích hoàn thiện con người, hướng đến hạnh phúc, an lạc.
Đạo đức Phật giáo theo truyền thống dựa trên quan điểm giác ngộ của Đức Phật. Thuật ngữ chỉ đạo đức hay luân lý được sử dụng trong Phật giáo là Śīla hoặc sīla (Pāli). Śīla trong Phật giáo là một trong ba phần của Bát Chánh 12 Đạo, và là một quy tắc ứng xử bao gồm cam kết hòa hợp và tự kiềm chế với động cơ chính là hòa bình, hoặc tự do không gây tổn hại. Nó đã được mô tả khác nhau như là đức hạnh, kỷ luật và giới luật đạo đức.
Giá trị cốt lõi của đạo đức Phật giáo tập trung vào việc chỉ ra nguyên nhân của mọi đau khổ và bất hạnh của con người và con đường giải thoát khỏi tất cả những đau khổ và bất hạnh đó. Vì thiếu hiểu biết, con người rơi vào tham lam và ham muốn dẫn đến sân hận và đau khổ. Vì vậy, Phật giáo khuyên con người phải từ bỏ lòng tham lam, ích kỷ, phải có lòng từ bi, biết yêu thương con người và chúng sinh. Con đường để thoát khỏi mọi đau khổ là phải nắm được chân lý của Tứ diệu đế, Bát chánh đạo và tuyệt đối giữ giới (Giới luật là những cam kết kiêng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và say sưa).
Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích nội dung đạo đức Phật giáo thể hiện qua các phạm trù cơ bản trong giáo lý Phật giáo: Tứ vô lượng tâm: Đức Phật khuyên dạy chúng sinh hãy chăm tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn món tâm rộng lớn không lường được”, đó là các tâm “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Tâm Từ (Metta): thường được dịch với nghĩa là tình thương, lòng từ ái. Tuy nhiên đây là tình thương bao la, rộng lớn, vượt lên mọi giới hạn về đối tượng, không gian, thời gian, phương thức thể hiện. Tâm từ khiến con người thương tất cả chúng sinh muôn loài, những đối tượng mình thích mà còn thương luôn đến kẻ mình cho là thù địch với mình; không chỉ thương người với người mà thương tất cả các loài chúng sinh hữu tình, vô tình.
Người nào có được tâm từ đó sẽ có một tâm hồn cao cả, yên vui, hạnh phúc. Tâm Bi (Karuna): Từ tình thương yêu vô bờ bến của tâm từ, con người thương xót với chúng sinh muôn loài, buồn vì cái buồn của người khác, đau vì cái đau của người khác, khiến ta hòa mình, cảm thông, sẻ chia, tận tâm giúp đỡ người khác.