CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu ống hậu môn Ống hậu môn (HM) là phần tận cùng của đại tràng, nằm giữa trực tràng và rìa HM. Trên cộng hưởng từ (CHT) chiều dài ống HM được đo từ chỗ nối HM – trực tràng đến đỉnh bó dưới da của cơ thắt ngoài.19 Ống HM được bao quanh bởi hai lớp cơ: cơ thắt trong và cơ thắt ngoài (Hình 1. Cơ thắt trong được cấu tạo bởi các sợi cơ trơn, liên tục với lớp cơ vòng trực tràng.
Cơ thắt trong co một cách không tự ý và chịu trách nhiệm cho 85% trương lực lúc nghỉ ống HM. Trên CHT mặt phẳng ngang cơ thắt trong biểu hiện dưới dạng vòng tròn bên trong ống HM. Cơ thắt trong có tín hiệu cao vừa phải, đồng nhất trên hình trọng T2 (T2W), bắt thuốc đáng kể sau tiêm tương phản (Hình 1. Trên CHT với cuộn thu đa dãy liên hợp, độ dày trung bình của cơ thắt trong khoảng 3,5 mm.19,20 Cơ thắt ngoài được cấu tạo bởi cơ vân với hình ảnh là lớp ngoài cùng của ống HM với tín hiệu thấp trên hình T2W.
Cơ thắt ngoài không bắt thuốc sau tiêm tương phản nhiều như cơ thắt trong. Mặc dù với sự co cơ có chủ ý rất mạnh mẽ giúp ngăn ngừa việc tống phân nhưng cơ thắt ngoài chỉ đóng góp 15% vào trương lực HM lúc nghỉ.9,14 Cơ thắt ngoài gồm 3 bó sợi cơ: bó sâu, bó nông và bó dưới da. Trên hình T2W độ phân giải cao, có thể phân biệt ba thành phần này (Hình 1. Bó sâu của cơ thắt ngoài, bao quanh 1/3 trên của ống HM và hợp nhất với cơ mu – trực tràng ở phía gần.21 Bó nông lớn nhất trong 3 bó, bao quanh để gia cố cho phần lớn cơ thắt trong và bao quanh ống HM ngay phía trên bó dưới da.
Bó nông liên tục trong dây. 4 chằng HM – cụt và gắn vào xương cụt ở phía sau. Ở phía trước, một số sợi chèn vào cơ ngang đáy chậu và gắn vào thể đáy chậu.22 Bó dưới da là một cơ dạng vòng bao quanh ống HM ở cạnh dưới – ngoài của cơ thắt trong, ngay bên dưới da quanh HM. Bó dưới da kéo dài đến bên dưới cơ thắt trong và cong vào trong tạo thành dạng chữ J đặc trưng.
Cơ thắt trong có thể mất liên tục mà không ảnh hưởng đến việc đi tiêu, nhưng một sự gián đoạn quá mức cơ thắt ngoài có thể dẫn đến đi tiêu không tự chủ. Hai cơ thắt được tách biệt nhau bởi khoang gian cơ thắt chứa mỡ, mô liên kết lỏng lẻo và cơ dọc (Hình 1. Trên hình trọng T1 (T1W) và T2W mặt phẳng ngang, khoang gian cơ thắt là một vùng mỏng có tín hiệu cao.19 Khoang này tạo nên một khoang tự nhiên có trở kháng thấp mà đường rò và mủ có thể dễ dàng lan đến.9 Bao quanh ống HM, phía trên phức hợp cơ thắt và phía dưới cơ mu – trực tràng là hai khoang hình chóp chứa mỡ liền kề được gọi là khoang ngồi – trực tràng ở phía trên và khoang ngồi – HM ở phía dưới.23 Về niêm mạc ống HM, một nửa đoạn gần của ống HM được đặc trưng bởi các nếp gấp dọc niêm mạc gọi là các cột HM Morgani. Phần xa của mỗi cột HM liên kết với cột kế cận nhờ một nếp bán nguyệt nhỏ gọi là van HM và lần lượt tạo thành các túi nhỏ gọi là khe Morgani.
Giới hạn phía xa của các van này có dạng nhấp nhô được gọi là đường lược – đánh dấu phần xa nhất của vùng chuyển tiếp HM – khoảng 2 cm tính từ rìa HM. Đối chiếu với những dấu hiệu khi nội soi đại tràng và khám lâm sàng, đường lược nằm ở ngang mức mặt phẳng cơ giữa bó nông và sâu của cơ thắt ngoài (Hình 1.19 Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, các bó của cơ thắt ngoài khó có thể phân định rõ ràng trên CHT nên nhiều tác giả đồng ý rằng đường lược trên CHT tương ứng với khoảng giữa 1/3 trên và 1/3 giữa của ống HM.24,25 Khoảng 3/4 trường hợp rò hậu môn (RHM) được hình thành tại khi vực này. 5 Các tuyến HM được mô tả bởi Chiari26 vào năm 1878 gồm 6 – 10 cấu trúc tuyến phân nhánh phân bố đều quanh chu vi ống HM, đầu ống đổ vào khe Morgani nằm phía trên van HM ngang mức đường lược. Phần lớn các tuyến này nằm dưới biểu mô, nhưng một số nhánh có thể xuyên qua cơ thắt trong để đến mô liên kết lỏng lẻo của khoang gian cơ thắt.9 Các tuyến HM tạo thành một kênh tự do tạo điều kiện cho nhiễm trùng lan rộng từ lòng ống HM vào sâu bên trong các cơ thắt, từ đó lan rộng ra mọi hướng.
Giải phẫu hậu môn – trực tràng Hai hình vẽ trên mặt phẳng đứng ngang và ngang thể hiện những cấu trúc giải phẫu trong đánh giá RHM. (1) cơ thắt trong, (2) cơ thắt ngoài, (3) cơ nâng HM, (4) hố ngồi – HM và hố ngồi – trực tràng, (---) khoang gian cơ thắt. Giải phẫu ống hậu môn và cấu trúc xung quanh trên cộng hưởng từ. (A) Hình CHT T2W, (B) hình T1W FS sau tiêm tương phản ở mặt phẳng ngang, (C) hình CHT T2W và (D) hình T1W FS sau tiêm tương phản ở mặt phẳng đứng ngang.
Giải phẫu vùng đáy chậu ở nam giới Đáy chậu là một cấu trúc phức tạp giúp nâng đỡ các cơ quan vùng chậu giúp duy trì trương lực lúc nghỉ, kiểm soát cơ thắt niệu đạo và HM một cách chủ ý. Do tỉ lệ các rối loạn đáy chậu ở nam thấp hơn nhiều so với nữ nên những tài liệu liên quan đến giải phẫu đáy chậu chủ yếu hướng đến đánh giá đáy chậu của nữ.28 Ở nam giới, đáy chậu có sự khác biệt về giải phẫu và sinh lý bệnh đặc trưng giới tính. Ranh giới của đáy chậu bao gồm xương mu ở phía trước, xương cùng – cụt ở phía sau và ụ ngồi ở hai bên. Đáy chậu có nhiều cơ và mạc nâng đỡ và được chia thành ba lớp từ nông đến sâu: khoang đáy chậu nông, hoành niệu dục và hoành chậu.29,30 Các cấu trúc giải phẫu đáy chậu được minh họa trong Hình 1.
Khoang đáy chậu nông bao gồm cơ hành xốp, cơ ngồi hang, và cơ ngang đáy chậu nông. Bờ dưới của khoang đáy chậu nông là mạc Colles, bờ trên là màng đáy chậu (mạc hoành niệu dục dưới). Mạc Colles là một cấu trúc mạc mỏng, gắn vào dưới các cơ vùng đáy dương vật, phân tách da và mỡ dưới da với khoang đáy chậu nông. Ở phía trước, mạc Colles liên tục với mạc Dartos của dương vật và mạc Scarpa của thành bụng trước.
Ở phía sau, mạc này bao quanh cơ ngang đáy chậu nông và hòa vào bờ dưới của mạc dưới hoành niệu dục.30,31 Hoành niệu dục bao gồm cơ ngang đáy chậu sâu, cơ thắt niệu đạo và một màng cơ ngăn cách khoang đáy chậu nông với vùng chậu phía trên. Thể đáy chậu là một cấu trúc mô liên kết giới hạn không rõ nằm ở đường giữa, đóng vai trò như một điểm gắn của nhiều cơ vùng đáy chậu, bao gồm các sợi từ cơ thắt ngoài HM, cơ thắt ngoài niệu đạo, cơ ngang đáy chậu nông và sâu, cơ hành xốp, và những sợi phía trước của cơ nâng HM. 8 Hoành chậu kéo dài từ mặt sau của khớp mu đến xương cụt và từ mặt trong của xương chậu đến xương chậu đối bên. Hoành chậu chủ yếu được tạo thành bởi phức hợp cơ mu – cụt, mu – trực tràng và cơ chậu – cụt.
Đáy chậu nam giới (A) Hình vẽ đáy chậu nam nhìn từ phía dưới cho thấy những cơ, mạc tạo thành khoang đáy chậu nông và hoành niệu dục. (B) Hình vẽ đáy chậu nhìn từ phía trên cho thấy những cơ, mạc tạo thành hoành chậu. “Nguồn: Janesh Lakhoo, 2019”. Đáy chậu nam giới nhìn nghiêng.
9 Mạc Colles ở phía sau gắn vào bờ trước bó nông của cơ thắt ngoài, phía trước liên tục với mạc Dartos của bìu. “Nguồn: Netter, Frank H, 2018”. Giải phẫu bìu Bìu là một túi mỏng bên ngoài da, chứa hai tinh hoàn, mào tinh và một phần thừng tinh. Túi bìu được cấu tạo bởi các lớp từ nông đến sâu bao gồm (Hình 1.5): da, mạc Dartos liên tục với mạc đáy chậu nông hay mạc Colles ở đáy chậu, mạc tinh ngoài, cơ bìu và mạc tinh trong, lá thành và lá tạng của tinh mạc, tinh hoàn.
Cấu tạo các lớp của bìu (A) Hình vẽ mình họa các lớp cấu tạo của bìu nhìn từ phía ngoài và (B) nhìn trên mặt phẳng cắt ngang. (1) da, (2) mạc Dartos, (3) mạc tinh ngoài, (4) cơ bìu, (5) mạc tinh trong, (6) mào tinh, (7) tinh hoàn, (8) lá thành và lá tạng của tinh mạc, (9) ống dẫn tinh.33 Trên CHT, túi bìu thường có tín hiệu thấp trên cả T1W và T2W, bắt thuốc tương phản sau tiêm do bản chất xơ của túi bìu (Hình 1. Tinh hoàn ở người. 10 lớn bình thường là một cấu trúc hình bầu dục đồng nhất với tín hiệu cao trên T2W, tín hiệu trung gian hoặc thấp trên T1W.
Tinh hoàn được bao quanh bởi lớp bao trắng có tín hiệu thấp trên cả T1W và T2W. So với tinh hoàn, mào tinh có tín hiệu trung gian trên T1W nhưng có tín hiệu thấp trên T2W. Sau tiêm tương phản, cả tinh hoàn và mào tinh đều bắt thuốc. Giải phẫu bìu trên cộng hưởng từ (A) Hình ảnh túi bìu trên hình T2W mặt phẳng đứng ngang có tín hiệu thấp và (B) trên hình T1W FS sau tiêm tương phản mặt phẳng đứng dọc túi bìu có bắt thuốc trên một bệnh nhân lymphoma tinh hoàn trái.
Nguyên nhân và sinh bệnh học RHM được cho là giai đoạn mạn tính của nhiễm trùng tuyến HM.1,23 Giả thuyết phổ biến nhất về nguyên nhân của RHM là thuyết khe – tuyến. Trong đó, nhiễm trùng các tuyến gian cơ thắt là sự kiện đầu tiên, nếu đường dẫn lưu bị tắc nghẽn sẽ dẫn đến hình thành một đường rò hoặc áp xe gian cơ thắt. Khoảng 40 - 60% bệnh nhân (BN) áp xe quanh HM cấp tính có thể phát triển một đường rò ở giai đoạn mạn tính.23 Hầu hết các tuyến là dưới biểu mô. Nếu một ổ áp xe phát triển trong một tuyến nông, nhiều khả năng nó sẽ tự chảy vào.
Tuy nhiên, nếu ổ áp xe nằm sâu, các cơ thắt có thể đóng vai trò như một rào chắn. Trong những trường hợp này, ổ áp xe vỡ ra dẫn đến chảy mủ dọc theo con đường có trở kháng thấp nhất là khoang gian cơ thắt và một đường rò gian cơ thắt sẽ được hình thành khi lan đến da.