Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ nhằm đưa ra mô hình các yếu tố của chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của khách hàng tại APSC. Chương này gồm có 2 phần chính (1) dịch vụ; chất lượng dịch vụ; mô hình SERVQUAL; sự hài lòng khách hàng và các nhân tố và (2) mô hình nghiên cứu các yếu tố của chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của khách hàng tại APSC.1 Khái niệm dịch vụ “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” (Lưu Văn Nghiêm, 2008, trang 6-7).2 Đặc tính dịch vụ Theo (Lưu Văn Nghiêm, 2008) dịch vụ có những đặc tính: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. • Tính vô hình Phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình. Đối với người sử dụng dịch vụ: Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể cân đong, đo đếm, tồn trữ hoặc thử trước khi mua như sản phẩm vật chất hữu hình để kiểm tra chất lượng.
Chỉ sau khi sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ. Đối với công ty cung cấp dịch vụ: Vì dịch vụ là vô hình nên thật khó cho các công ty trong việc tìm hiểu khách hàng nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 • Tính không đồng nhất Tính khác biệt của dịch vụ thể hiện rõ ở đặc tính này, đặc biệt đối với những dịch vụ mà sức lao động của con người là chủ yếu. Nguyên nhân là hoạt động của dịch vụ thường thay đổi từ các nhà cung cấp dịch vụ, từ khách hàng, và chất lượng dịch vụ cung cấp cũng khác bởi lệ thuộc vào nhân viên phục vụ, thời gian thực hiện, đối tượng phục vụ, địa điểm phục vụ và lĩnh vực phục vụ.
Ví dụ tính không đồng nhất của chất lượng dịch vụ lệ thuộc vào nhân viên phục vụ: một nhân viên làm công việc dịch vụ chăm sóc khách hàng tại khách sạn. Vào buổi sáng, người nhân viên này làm việc với tâm trạng rất vui vẻ, hiệu quả do mới bắt đầu ngày làm việc, cộng với việc vừa được bạn trai đưa đi ăn sáng. Cũng người nhân viên đó vào giờ làm việc buổi chiều do đã thấm mệt bởi cường độ lao động cộng với tin nhắn của bạn trai không tới đón về được nên có thể năng lực phục vụ, hiệu quả công việc của người nhân viên này vào buổi chiều có thể giảm. • Tính không thể tách rời Đặc tính này cho thấy thật khó để có thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rõ ràng đó là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng.
Bởi việc sản xuất dịch vụ và tiêu thụ dịch vụ thường diễn ra cùng một thời gian. Nếu sản xuất hàng hóa thường theo quy trình từ sản xuất đến lưu kho đến phân phối và sau đó giao đến khách hàng thì dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu thụ ngay. • Tính không thể cất trữ Không như các hàng hóa khác, dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán. Dịch vụ có thể được thực hiện theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất trữ dịch vụ rồi sau đó mang ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể lưu trữ để sử dụng lại hay sửa chữa lại để sử dụng.
Chính vì lẽ đó mà dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. Nhận thức được tầm quan trọng đó nên nhiều doanh nghiệp đã chú trọng vào việc định nghĩa chất lượng dịch vụ không chỉ là cơ sở để xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho doanh nghiệp phát huy tối đa thế mạnh của mình. Thực tế cho thấy khách hàng chỉ có thể đánh giá chất lượng dịch vụ sau khi đã sử dụng dịch vụ.
Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007, trang 87): “chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Đặc tính của chất lượng dịch vụ. Theo (Lưu Văn Nghiêm, 2008) chất lượng dịch vụ gồm có những đặc tính: tính vượt trội, tính đặc trưng của sản phẩm, tính cung ứng, tính thỏa mãn nhu cầu và tính tạo ra giá trị.1 Tính vượt trội: Theo đánh giá của khách hàng, dịch vụ nào thể hiện được tính vượt trội của mình so với những sản phẩm khác là dịch vụ có chất lượng. Tính vượt trội chính là nhân tố làm cho chất lượng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ.
Thực tế cho thấy đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều bởi sự cảm nhận của người sử dụng dịch vụ. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh giá chất lượng dịch vụ từ cảm nhận của khách hàng trong các hoạt động nghiên cứu thị trường nói chung và nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng nói riêng.2 Tính đặc trưng của sản phẩm: Tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh túy nhất kết tinh trong sản phẩm, dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm, dịch vụ đó chính là chất lượng dịch vụ. Điều này cho thấy dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng cao sẽ chứa nhiều “đặc trưng vượt trội” hơn hẳn so với dịch vụ cấp thấp hơn. Đây chính là cơ sở để phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 biệt các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm dịch vụ.
Khách hàng có thể nhận biết chất lượng dịch vụ của từng doanh nghiệp qua chính những đặc trưng này. Thực tế cho thấy rất khó xác định các đặc trưng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy đủ và chính xác. Trong chừng mực nào đó, các đặc trưng này chỉ mang tính tương đối trong việc nhận biết chất lượng dịch vụ trong trường hợp cụ thể được dễ dàng hơn mà thôi.3 Tính cung ứng: Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện/chuyển giao dịch vụ đến khách hàng. Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ, và cách cung ứng dịch vụ sẽ quyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xấu.
Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp. Chính vì thế để nâng cao chất lượng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ trước tiên cần phải biết cải thiện yếu tố nội tại này để tạo thành thế mạnh lâu dài của chính mình trong hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng.4 Tính thỏa mãn nhu cầu: Thỏa mãn nhu cầu khách hàng là đặc tính của dịch vụ. Sự thật hiển nhiên là chất lượng dịch vụ nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu khách hàng và lấy yêu cầu của khách hàng làm cơ sở để cải thiện chất lượng dịch vụ. Rõ ràng, khách hàng sẽ không hài lòng nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu của mình.
Các doanh nghiệp có định hướng khách hàng thường luôn hướng đến nhu cầu khách hàng và cố gắng hết mình để đáp ứng các nhu cầu đó. Nếu khách hàng đánh giá dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp không có giá trị thì doanh nghiệp nhất thiết phải xem lại dịch vụ của mình nếu không muốn bị đào thải.5 Tính tạo ra giá trị: Thực tế cho thấy, để phục vụ khách hàng thì chất lượng dịch vụ phải gắn liền với các giá trị được tạo ra. Dịch vụ không có chất lượng là dịch vụ không sản sinh ra giá trị nào. Việc tạo ra giá trị là việc phải làm của doanh nghiệp và việc thụ hưởng những giá trị đó chính là khách hàng.
Do đó, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hay cụ thể hơn là các giá trị mà khách hàng cảm nhận được phụ thuộc hoàn toàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vào khách hàng chứ không phải từ doanh nghiệp. Hầu hết khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ thì họ thường có cảm nhận về những giá trị do dịch vụ mang lại và so sánh những giá trị đó với những gì mà khách hàng mong đợi sẽ nhận được. Do vậy, xây dựng và phát triển chất lượng dịch vụ cần lấy nền tảng là tính tạo ra giá trị một đặc tính cơ bản tạo ra chất lượng dịch vụ.2 Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được đánh giá bởi nhiều yếu tố, tùy theo tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứu mà người ta đưa ra các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập vấn đề này.
Parasuraman và cộng sự là những người khởi nguồn nghiên cứu chất lượng dịch vụ. Parasuraman và cộng sự (1985) trích trong (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007) đã đưa ra mười nhân tố chính quyết định chất lượng dịch vụ: (1) Khả năng tiếp cận: liên quan đến việc tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận các dịch vụ, ví dụ: thời gian các hoạt động các dịch vụ; việc bố trí các tiện ích giải trí. (2) Truyền thông: khả năng giao tiếp với khách hàng bằng Tiếng Anh. (3) Năng lực chuyên môn: trình độ chuyên môn của nhân viên thực hiện nhiệm vụ.
(4) Đáp ứng: thể hiện sự mong muốn và sẵn lòng của nhân viên trong việc phục vụ và cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. (5) Lịch sự: nói lên tính cách phục vụ niềm nở, nhiệt tình và tôn trọng khách hàng. (6) Đáng tin cậy: thể hiện khả năng thực hiện đúng dịch vụ đã cam kết và đúng thời hạn. (7) Tín nhiệm: khả năng tạo lòng tin nơi khách hàng, khả năng này thể hiện qua tên tuổi, thương hiệu của doanh nghiệp và nhân cách của nhân viên phục vụ trong giao tiếp trực tiếp với khách hàng.
(8) Tính an toàn: liên quan đến việc đảm bảo an toàn cho khách hàng, thể hiện qua việc đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của khách hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 (9) Tính hữu hình: thể hiện qua cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khách hàng, trang phục của nhân viên. (10) Am hiểu khách hàng: khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng.